Chuyển tới nội dung chính

Phân tích ngành

Cơ khí Tháng 10/2026

Số liệu chốt 14/10/2026Kỳ sau: 14/11/2026

Sản lượng cơ khí tiếp tục tăng hai con số, nhưng đơn hàng xuất khẩu mới trong khảo sát PMI đã giảm hai tháng liên tiếp. Chỉ số sản xuất ngành kim loại 9 tháng tăng 25,5%, xe có động cơ tăng 15,3%; xuất khẩu máy móc, thiết bị đạt 55,01 tỷ USD, tăng 27,9% và đã vượt kim ngạch nhập khẩu cùng nhóm. Ở chiều đơn hàng, PMI ngành sản xuất tháng 9 giảm từ 53,3 xuống 51,9 điểm, trong đó đơn hàng xuất khẩu mới giảm nhanh nhất kể từ tháng 4.

Sản xuất kim loại tăng 25,5%, PMI 51,9 điểm, đồng tăng 45,5%

Chỉ số sản xuất ngành kim loại+25,5%9 tháng 2026 · so với cùng kỳ

Quý I chỉ số này tăng 22,9%, 6 tháng tăng 21,5%, 8 tháng tăng 22,4%. Toàn ngành công nghiệp 9 tháng tăng 12,3%.

PMI ngành sản xuất Việt Nam51,9 điểmtháng 9/2026 · trên 50 điểm là sản xuất đang mở rộng

PMI là chỉ số S&P Global khảo sát hằng tháng các giám đốc mua hàng của nhà máy. Tháng 7 đạt 52,9 điểm, tháng 8 đạt 53,3 điểm.

Giá đồng tháng 9+45,5%so với bình quân 2025 · 14.474 USD/tấn

Bình quân năm 2025 là 9.947 USD một tấn. Bình quân tháng 7 là 13.543 USD, tháng 8 là 14.326 USD; cả quý III là 14.114 USD.

Công nghiệp quý III tăng 14,8%, đơn hàng xuất khẩu mới giảm

1 · Nhu cầu​

Diễn biến. Nhu cầu đầu tư máy móc trên thế giới tiếp tục tăng, thể hiện rõ nhất qua lượng đơn hàng của các nhà sản xuất máy công cụ Nhật Bản. Hiệp hội các nhà sản xuất máy công cụ Nhật Bản công bố lượng đơn hàng nhận được hằng tháng, nên đây là chỉ báo sớm về việc các nhà máy trên thế giới đang mở rộng hay thu hẹp đầu tư thiết bị.

Theo số sơ bộ hiệp hội này công bố ngày 9/10, đơn hàng tháng 9 đạt 223,2 tỷ yên, tăng 60% so với cùng kỳ, mức cao nhất theo tháng trong chuỗi số liệu của hiệp hội và là tháng tăng thứ 15 liên tiếp. Cộng dồn 7 tháng đầu năm, theo số chính thức, đạt 1.248,2 tỷ yên, tăng 37,8%. Lượng đơn hàng đã nhận nhưng chưa giao vượt 1.000 tỷ yên, với động lực chính là nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo.

Đơn hàng khách đặt mua máy công cụ Nhật Bản, theo tháng
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Hiệp hội các nhà sản xuất máy công cụ Nhật Bản (JMTBA). Tháng 8/2026 là số sơ bộ theo nguồn trung gian; tháng 9/2026 là số sơ bộ của JMTBA, chưa tách đơn hàng nước ngoài

Tại Đức, theo Hiệp hội các nhà sản xuất máy móc Đức, đơn hàng máy móc 6 tháng đầu năm tăng 5% sau khi loại trừ yếu tố giá; đơn hàng từ ngoài khu vực đồng euro tăng 16%, trong khi đơn hàng trong nước giảm 2%. Tháng 7, đơn hàng tăng 2% so với cùng kỳ.

Trong nước, nhu cầu đối với sản phẩm cơ khí đến từ ba nguồn. Thứ nhất là đầu tư công: vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 661,8 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ và bằng 59,9% kế hoạch năm. Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%, riêng quý III tăng 16,7%. Thứ hai là vốn đầu tư nước ngoài: vốn thực hiện 9 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, mức cao nhất của kỳ 9 tháng trong 5 năm, trong đó công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 82,6% với 17,40 tỷ USD; vốn đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%. Dòng vốn này kéo theo nhu cầu xây dựng nhà xưởng, lắp đặt hệ thống cơ điện, chế tạo đồ gá và gia công chính xác. Thứ ba là ngành điện: EVN đã khởi công 98 công trình lưới điện 110–500 kV trong 7 tháng và đóng điện 100 công trình.

Xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng 9 tháng đạt 55,01 tỷ USD, tăng 27,9%, tiếp tục là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ hai của cả nước, chỉ sau điện tử.

Dự báo. IMF, trong báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới công bố ngày 13/10/2026, dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu đạt 3,1% năm 2026 và 3,4% năm 2027; theo IMF, đầu tư hạ tầng trí tuệ nhân tạo là động lực tăng trưởng chính của các nền kinh tế phát triển và của các nước cung ứng thiết bị cho chuỗi này. OECD, trong báo cáo giữa kỳ tháng 9, dự báo GDP toàn cầu tăng 2,9% năm 2026 và 3,0% năm 2027. Với Việt Nam, IMF dự báo tăng trưởng 8,4% năm 2026; ADB, trong báo cáo tháng 9, dự báo 7,8%; World Bank, trong báo cáo khu vực Đông Á – Thái Bình Dương ngày 06/10, dự báo 7,4%. Thực tế, GDP 9 tháng đã tăng 9,01%, và Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên.

Theo điều tra xu hướng kinh doanh của Cục Thống kê, 39,2% doanh nghiệp chế biến chế tạo dự báo quý IV tốt hơn quý III, 44,7% dự báo giữ ổn định và 16,1% dự báo khó khăn hơn.

Ở chiều ngược lại, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam có mốc khởi công tháng 12/2027 theo báo cáo của Bộ Xây dựng, và tiến độ giải phóng mặt bằng có thể đẩy mốc này sang quý IV/2028. Nhu cầu ray, phụ kiện, kết cấu nhà ga và toa xe vì vậy chưa phát sinh trong giai đoạn 2026–2027.

2 · Nguồn cung​

Diễn biến. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3% so với cùng kỳ, mức tăng cao nhất của kỳ 9 tháng kể từ năm 2019; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,9%. Riêng quý III, chỉ số này tăng 14,8%, trong đó tháng 9 tăng 16,7%. Các phân ngành liên quan đến cơ khí đều tăng hai con số, mạnh nhất là sản xuất kim loại.

Chỉ số sản xuất các phân ngành liên quan cơ khí, 9 tháng 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Cục Thống kê, % so với cùng kỳ. Thiết bị điện chưa có số 9 tháng, dòng nhạt là số 8 tháng

PMI ngành sản xuất tháng 9 giảm từ 53,3 điểm của tháng 8 xuống 51,9 điểm, vẫn là tháng thứ 15 liên tiếp trên mốc 50. Theo S&P Global, sản lượng tiếp tục tăng nhưng chậm hơn tháng 8, và đơn hàng mới tăng yếu nhất trong chuỗi 5 tháng tăng hiện tại. Đáng chú ý, đơn hàng xuất khẩu mới giảm tháng thứ hai liên tiếp, với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 4; S&P Global nêu nguyên nhân là nhu cầu quốc tế yếu, giá nhiên liệu tăng và vận chuyển quốc tế gặp trở ngại. Tâm lý kinh doanh của doanh nghiệp vẫn ở mức cao nhất kể từ tháng 2.

Chỉ số tiêu thụ ngành chế biến chế tạo 9 tháng tăng 12,8% so với cùng kỳ. Chỉ số tồn kho tại ngày 30/9 tăng 11,9% so với cùng kỳ và tăng 4,3% so với tháng trước.

Nguồn cung thép chế tạo trong nước sắp có thay đổi. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, sản xuất thép thô 7 tháng đạt 17,92 triệu tấn, tăng 28%, và Việt Nam lần đầu vào nhóm 10 nước sản xuất thép thô lớn nhất thế giới; theo Cục Thống kê, sản lượng sắt, thép thô 9 tháng tăng 13,3%. Tính đến đầu tháng 8, Hoà Phát đã hoàn thành hơn 50% khối lượng xây dựng nhà máy ray và thép đặc biệt Dung Quất, công suất 700.000 tấn một năm, đặt mục tiêu cho ra sản phẩm ray đầu tiên vào quý I/2027. Theo kế hoạch công bố trước đó, dây chuyền thép chế tạo, thép vòng bi và thép tanh lốp công suất 500.000 tấn một năm vận hành khâu cán trong quý III/2026 và khâu đúc trong quý IV/2026. Đây là bước thay thế nhập khẩu thép chế tạo, nguyên liệu trực tiếp của cơ khí chính xác.

Máy móc Trung Quốc chiếm 64,9% kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị 9 tháng của Việt Nam. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 3.100 doanh nghiệp cơ khí với 53.000 cơ sở sản xuất, song tỷ lệ nội địa hoá thiết bị toàn bộ vẫn dưới 20%.

Dự báo. Hiệp hội Thép Việt Nam dự báo sản lượng toàn ngành thép cả năm tăng 8–10%, nhu cầu trong nước vào khoảng 26 triệu tấn.

3 · Giá​

Diễn biến. Giá kim loại đầu vào tháng 9 phần lớn vẫn cao hơn nhiều so với bình quân năm 2025, nhưng không còn tăng đồng loạt.

Giá bình quân tháng 9/2026 so với bình quân năm 2025
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: World Bank Pink Sheet bản 02/10/2026. Tỷ lệ tự tính từ hai mức giá bình quân

Giá đồng bình quân tháng 9 đạt 14.474 USD một tấn, cao hơn 45,5% so với bình quân năm 2025; bình quân quý III là 14.114 USD, cao hơn quý II 5,7%. Nhôm đi theo hướng ngược lại: bình quân quý III là 3.232 USD một tấn, thấp hơn quý II 9,4%, lần giảm theo quý đầu tiên trong năm. Thiếc tháng 9 cao hơn bình quân năm 2025 là 57,7%, kẽm cao hơn 40,2%.

Quặng sắt và chì là hai kim loại thấp hơn bình quân năm 2025, lần lượt 2,5% và 4,5%. Như vậy, cùng là kim loại đầu vào nhưng giá đồng, nguyên liệu chính của thiết bị điện, cáp và động cơ, cao hơn mức bình quân năm 2025 tới 45,5%, còn quặng sắt, nguyên liệu đầu vào của ngành thép, lại thấp hơn.

Theo Công ty Chứng khoán MB, giá thép xây dựng trong nước quý III cao hơn cùng kỳ khoảng 7%. Giá thép xây dựng niêm yết ngày 13/10 dao động trong khoảng 13.840 – 15.150 đồng một ki-lô-gam, ổn định ở cả ba miền và không đổi so với tháng 9. Trên thị trường Trung Quốc, giá thép thanh kỳ hạn cùng ngày xuống mức thấp nhất trong khoảng một tháng.

Trong nước, theo thông cáo giá quý III của Cục Thống kê, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp 9 tháng tăng 4,37% so với cùng kỳ; riêng sản phẩm kim loại tăng 6,27%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,52%.

Dự báo. World Bank, trong báo cáo triển vọng thị trường hàng hoá tháng 4/2026, dự báo giá bình quân năm 2026 của chỉ số kim loại và khoáng sản cao hơn năm 2025 là 17%, lên mức cao nhất lịch sử, rồi giảm 7% năm 2027. Theo từng kim loại, giá nhôm năm 2026 tăng 22%, đồng và thiếc mỗi loại khoảng 20%, niken 12% và kẽm 5%. Để so sánh, chỉ số kim loại và khoáng sản tháng 9 đã cao hơn bình quân năm 2025 là 31,5%.

Lưới điện, nhà xưởng tạo việc, máy móc chuyển sang xuất siêu

Cơ khí chế tạo​

Máy móc, thiết bị công nghiệp, máy động lực, máy nông nghiệp · nhu cầu lớn nhưng phần lớn do máy nhập khẩu đáp ứng.

Theo Hiệp hội các nhà sản xuất máy công cụ Italy, Việt Nam là thị trường nhập khẩu máy công cụ lớn nhất ASEAN và đứng thứ 5 thế giới. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị 9 tháng đạt 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%, trong khi tỷ lệ nội địa hoá thiết bị toàn bộ vẫn dưới 20%.

Với máy nông nghiệp, diện tích gieo trồng lúa 8 tháng giảm so với cùng kỳ: lúa hè thu giảm 29,1 nghìn héc-ta, lúa mùa giảm 50,7 nghìn héc-ta.

Kết cấu thép và cơ khí công trình​

Nhà thép tiền chế, cột thép truyền tải, bồn bể, lắp máy · có nguồn việc từ lưới điện, nhà xưởng và metro, nhưng mảng xây lắp của PC1 6 tháng giảm gần 25%.

Phân khúc này có nguồn việc từ ba hướng. Thứ nhất là ngành điện: trong 7 tháng, EVN khởi công 98 công trình lưới điện; nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I đang ở giai đoạn hoàn thiện, còn dự án điện khí hoá lỏng Quảng Trạch II đã ký hợp đồng tổng thầu thiết kế, mua sắm và thi công. Thứ hai là nhà xưởng, đi theo vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trong công nghiệp chế biến chế tạo, đạt 17,40 tỷ USD trong 9 tháng. Thứ ba là đường sắt đô thị: TP.HCM đã khởi công 71,5 km và dự kiến khởi công thêm 138,8 km đến cuối năm 2026; ngày 22/6/2026, Hà Nội khởi công đồng thời 5 tuyến với tổng chiều dài 303,5 km.

Tuy vậy, có hai điểm cần lưu ý. Thứ nhất, theo tiến độ đã công bố, phần lớn vốn mua sắm thiết bị của các tuyến metro nhiều khả năng rơi vào giai đoạn 2028 – 2030, không phải năm nay. Thứ hai, có việc không đồng nghĩa với doanh thu tăng: doanh thu mảng xây lắp, thiết bị điện và hạ tầng khu công nghiệp của PC1 6 tháng giảm gần 25%, còn 1.729 tỷ đồng.

Công nghiệp hỗ trợ cơ khí​

Linh kiện ô tô, xe máy, điện tử; gia công chính xác, khuôn mẫu, đúc, hàn, xử lý bề mặt · sản lượng ô tô 9 tháng tăng 24,8%, nhưng xe nhập khẩu chiếm 60,7% doanh số tháng 9 của các hãng thuộc Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam.

Chỉ số sản xuất ngành xe có động cơ 9 tháng tăng 15,3%, điện tử tăng 15,2%; sản lượng ô tô 9 tháng tăng 24,8%, xe máy tăng 28,1%. Doanh số của các hãng thuộc hiệp hội này, gồm thành viên và nhà nhập khẩu, 9 tháng đạt 282.029 xe, tăng 12%, trong đó xe hybrid tăng 64% nhờ ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt dành cho xe hybrid tự sạc. VinFast công bố bàn giao 177.697 xe trong 9 tháng, tăng 72%, vượt cả năm 2025.

Nhu cầu linh kiện của phân khúc này phụ thuộc vào xe lắp ráp trong nước chứ không phải tổng doanh số thị trường. Số liệu của các hãng thuộc hiệp hội, nhóm không gồm VinFast và Hyundai Thành Công, cho thấy xe lắp ráp gần như đi ngang.

Doanh số xe lắp ráp trong nước và xe nhập khẩu nguyên chiếc của các hãng thuộc Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), gồm thành viên và các nhà nhập khẩu, không gồm VinFast và Hyundai Thành Công. Chưa có số tách riêng tháng 8

Tháng 9, các hãng thuộc hiệp hội bán 13.784 xe lắp ráp trong nước, gần bằng 13.798 xe của tháng 7, trong khi xe nhập khẩu nguyên chiếc tăng từ 19.909 lên 21.310 xe, chiếm 60,7% doanh số tháng. Cộng dồn 7 tháng, xe lắp ráp của nhóm này tăng 6% trong khi xe nhập khẩu tăng 21%. Đây là chỉ báo bất lợi trực tiếp cho nhà cung cấp linh kiện của các hãng này.

Với điện tử, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 9 tháng tăng 59,6%, nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn, 71,7%, đưa mức nhập siêu của nhóm hàng này lên 65,3 tỷ USD, gấp đôi cùng kỳ.

Rủi ro riêng của phân khúc là doanh thu tập trung vào một hoặc hai hãng lắp ráp: Nhựa Hà Nội, chẳng hạn, có 58,4% doanh thu năm 2024 đến từ một hãng duy nhất.

Dịch vụ cơ khí​

Lắp đặt, sửa chữa, bảo trì máy móc thiết bị công nghiệp · nhu cầu đi theo lượng máy nhập khẩu, 53,95 tỷ USD trong 9 tháng.

Lượng máy móc công nghiệp đang vận hành trong nước tăng nhanh theo nhập khẩu. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị 9 tháng đạt 53,95 tỷ USD, trong đó máy Trung Quốc chiếm 64,9%. Số máy này cần bảo trì và phụ tùng thay thế theo tiêu chuẩn Trung Quốc.

EVN đang thực hiện tiểu tu, cải tạo hệ thống xử lý khí thải nhiệt điện và các đợt bảo dưỡng nhà máy điện. Doanh nghiệp trong phân khúc phần lớn có quy mô nhỏ.

Thương mại, phân phối máy móc và kim khí​

Đại lý máy công cụ, nhà nhập khẩu máy Trung Quốc, đại lý kim khí · máy móc chuyển sang xuất siêu, nhưng 64,9% máy nhập khẩu đến từ Trung Quốc.

Xuất khẩu và nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, cộng dồn từ đầu năm
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Cục Hải quan, Cục Thống kê, tỷ USD

Sau 9 tháng, nhóm máy móc, thiết bị chuyển sang xuất siêu 1,06 tỷ USD, từ mức nhập siêu 0,11 tỷ USD sau 8 tháng. Riêng với Trung Quốc, Việt Nam nhập 35,0 tỷ USD máy móc, thiết bị trong 9 tháng và xuất 5,15 tỷ USD; máy Trung Quốc chiếm 64,9% tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm này.

Trong 5 tháng đầu năm, khối doanh nghiệp vốn nước ngoài nhập trực tiếp khoảng 70% kim ngạch máy móc; phần còn lại do doanh nghiệp trong nước nhập trực tiếp hoặc qua kênh thương mại. Ba nhóm kênh phân phối có mức lợi nhuận rất khác nhau. Đại lý uỷ quyền của các hãng Nhật Bản, Đức và Đài Loan có biên lợi nhuận ổn định nhờ đi kèm dịch vụ hậu mãi. Nhà nhập khẩu máy Trung Quốc có vòng quay hàng nhanh nhưng phải chịu rủi ro bảo hành và tồn kho. Đại lý kim khí thì phụ thuộc nhiều vào chiều biến động của giá thép. Ngành máy công cụ Italy, nhà cung cấp lớn thứ 6 vào Việt Nam, đã mở văn phòng đại diện tại TP.HCM để tiếp cận khách hàng trực tiếp, không qua trung gian.

Giá bán sản phẩm kim loại tăng 6,27%, giá đồng tiếp tục lên

Bốn nguồn số liệu cho thấy chi phí đầu vào của ngành vẫn đang tăng, nhưng mức chênh với giá bán ra khác nhau tuỳ nhóm sản phẩm.

Chỉ số giá đầu vào và giá bán ra, bình quân 9 tháng 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Cục Thống kê, thông cáo giá quý III/2026, % so với cùng kỳ. Các chỉ số khác rổ hàng, đặt cạnh nhau để thấy chiều, không trừ cho nhau

Thứ nhất, số liệu thống kê giá. Trong chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, nhóm là sản phẩm công nghiệp chế biến chế tạo 9 tháng tăng 5,04% so với cùng kỳ, trong khi giá bán ra của sản phẩm chế biến chế tạo tăng 4,28%. Riêng sản phẩm kim loại, giá bán ra bình quân 9 tháng tăng 6,27%. Trong rổ nguyên nhiên vật liệu, giá nhóm sản phẩm kim loại quý III tăng 6,04% so với cùng kỳ.

Thứ hai, đánh giá của chính doanh nghiệp. Trong điều tra doanh nghiệp chế biến chế tạo quý II của Cục Thống kê, tỷ lệ đề nghị giảm lãi suất cho vay cao nhất toàn ngành thuộc về sản xuất kim loại 52,5% và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 50,9%. Quý I, ngành sản xuất kim loại cũng dẫn đầu về tỷ lệ doanh nghiệp báo chi phí một đơn vị sản phẩm tăng, với 52,0%.

Thứ ba, báo cáo tài chính xác nhận. GELEX Electric, trong giải trình kết quả quý II, cho biết giá đồng tăng khoảng 40%. Theo số liệu World Bank, giá đồng bình quân quý II cao hơn cùng kỳ 40,3%; sang quý III, giá tiếp tục cao hơn quý II 5,7%.

Thứ tư, diễn biến tương tự ở nước ngoài. Theo chỉ số giá sản xuất tháng 8 do Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ công bố, giá ở khâu đầu của chuỗi sản xuất (cầu trung gian giai đoạn 1) tăng 11,3% trong 12 tháng, cao hơn mức 9,7% của tháng 7; giá hàng đã qua chế biến dùng cho sản xuất tăng 11,5%. Cũng trong tháng 8, giá năng lượng ở khâu tiêu dùng cuối cùng tăng 4,2% và dầu diesel tăng 24,1% so với tháng trước. Ở chiều ngược lại, giá phế liệu sắt thép và nhôm cán tại Hoa Kỳ lại giảm.

Về lạm phát và tỷ giá trong nước: chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,52%; chỉ số giá đô-la Mỹ bình quân 9 tháng tăng 1,01%.

Doanh thu tăng, một phần lãi đến từ liên doanh và thoái vốn

Bảng dưới tổng hợp kết quả 6 tháng đầu năm 2026 của tám doanh nghiệp niêm yết thuộc các phân khúc trên, theo báo cáo tài chính hợp nhất. Báo cáo tài chính quý III chưa đến hạn công bố.

Doanh nghiệpPhân khúcDoanh thu 6TLợi nhuận sau thuế 6TBiên lợi nhuận gộpDòng tiền kinh doanh 6T
GEE GELEX ElectricCáp, máy biến áp, động cơ16.723 tỷ · +41,8%1.346 tỷ · +28%——
REECơ điện lạnh, năng lượng, nước4.897 tỷ · +6,9%1.398 tỷ · +13% (sơ bộ)quý II khoảng 38%+2.600 tỷ
PC1Cột thép, xây lắp điện4.206 tỷ · −12,3%477,6 tỷ · +54%6T 22,2%—
SHI Sơn HàỐng, bồn inox, sản phẩm kim loại5.341 tỷ · +11%31 tỷ6T 9,5%—
VEA VEAMMáy động lực, máy nông nghiệp2.571 tỷ · +23%3.982 tỷ · +16,8%6T 15,1%−187 tỷ
SRF SeareficoCơ điện, kết cấu, kho lạnh649 tỷ · +50,0%15,21 tỷ6T 5,8%−231 tỷ
HHS Hoàng HuyPhân phối xe tải, đầu kéo478 tỷ · +67%82 tỷ · −97,7%——
LLM LILAMATổng thầu trọn gói, lắp máychưa tìm được số quý IIchưa tìm được số quý II——

Sáu trong bảy doanh nghiệp có số liệu tăng doanh thu 6 tháng, chỉ PC1 giảm. Với Hoàng Huy, phân phối xe tải nay chỉ còn là mảng phụ, nên kết quả của doanh nghiệp này không phản ánh phân khúc thương mại thiết bị. Ngoài mức tăng doanh thu, có ba điểm đáng chú ý hơn:

Lợi nhuận không phải lúc nào cũng đến từ hoạt động cốt lõi. VEAM có lợi nhuận 6 tháng 3.982 tỷ đồng nhưng 3.521 tỷ đồng, tức 88%, đến từ các liên doanh với Honda, Toyota, Ford; hoạt động cốt lõi là máy nông nghiệp và xe tải sinh lãi gộp 388 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí bán hàng và quản lý chỉ còn lãi chưa đến 100 tỷ đồng. PC1 có doanh thu giảm 12,3% nhưng lợi nhuận sau soát xét vẫn tăng 54%, nhờ biên lợi nhuận gộp cải thiện cùng doanh thu tài chính 269 tỷ đồng, gấp 2,7 lần cùng kỳ. Lợi nhuận của SRF đến từ thoái vốn, không phải từ thi công.

Biên lợi nhuận gộp chênh nhau rất xa. SRF chỉ đạt 5,8% trong 6 tháng. Cao nhất trong các doanh nghiệp có số liệu là REE, khoảng 38% trong quý II; PC1 tăng từ 20,2% lên 22,2% trong 6 tháng.

Dòng tiền kinh doanh cho thấy khác biệt rõ hơn cả lợi nhuận. REE dương 2.600 tỷ đồng, gấp 2,4 lần cùng kỳ. Ngược lại, VEAM âm 187 tỷ đồng và SRF âm 231 tỷ đồng, riêng SRF gấp hơn năm lần mức âm của cùng kỳ. Nợ vay của GEE tăng 53,5% so với đầu năm, lên 8.467 tỷ đồng, và lãi vay quý II tăng 92,4%.

Về khối lượng việc phía trước, mảng cơ điện của REE ký hợp đồng mới 5.900 tỷ đồng trong 6 tháng; theo số sơ bộ công bố tại đại hội cổ đông ngày 10/7, khối lượng chưa thực hiện của mảng này khoảng 10.000 tỷ đồng tại ngày 30/6. SRF cho biết khối lượng việc chưa thực hiện khoảng 3.000 tỷ đồng tại ngày 29/5.

Rủi ro quản trị không hiện lên trong bảng số: trường hợp PC1.

Theo công bố thông tin bất thường ngày 16/5/2026 của PC1, 4 thành viên Hội đồng quản trị cùng 3 cán bộ quản lý khác không còn tham gia điều hành. Hai hệ quả đã xảy ra:

  • Hội đồng quản trị chỉ còn một người, không đủ điều kiện để họp.
  • Doanh nghiệp không nộp được báo cáo tài chính quý I đúng hạn, vì thiếu người có thẩm quyền ký duyệt.

Đến ngày 24/7/2026, đại hội cổ đông bất thường đã bầu bổ sung 4 thành viên mới, bộ máy hoạt động trở lại. PC1 cho biết vụ việc không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

Điều đáng rút ra cho doanh nghiệp trong ngành: một đối tác có thể rơi vào tình trạng không còn ai đủ thẩm quyền ký hợp đồng hay duyệt thanh toán, mà báo cáo tài chính không hề báo trước. Khi doanh thu của bạn phụ thuộc vào một nhà thầu chính hay một khách hàng lớn, theo dõi công bố thông tin của họ cũng cần thiết như theo dõi số liệu.

Bảy rủi ro cần theo dõi

1. Hợp đồng cố định giá, ký trước khi kim loại tăng giá. Đồng tháng 9 cao hơn bình quân 2025 là 45,5%. World Bank, trong báo cáo tháng 4, dự báo bình quân năm 2026 của chỉ số kim loại cao hơn năm 2025 là 17%, trong khi chỉ số tháng 9 đã cao hơn 31,5%. Hợp đồng đầu ra chốt giá từ 2025 hoặc đầu 2026 mà không có điều khoản điều chỉnh giá là hợp đồng có nguy cơ lỗ, nhất là với nhà sản xuất thiết bị điện, cáp và động cơ dùng nhiều đồng.

2. Đơn hàng xuất khẩu bắt đầu giảm. Đơn hàng xuất khẩu mới trong PMI giảm tháng thứ hai liên tiếp trong tháng 9, với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 4. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 vẫn tăng 16,7%, nhưng đơn hàng mới theo khảo sát PMI đang tăng chậm lại.

3. Xe nhập khẩu tăng nhanh hơn xe lắp ráp ở các hãng thuộc Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam. Tháng 9, xe nhập khẩu nguyên chiếc chiếm 60,7% doanh số của nhóm hãng này; cộng dồn 7 tháng, xe lắp ráp của nhóm tăng 6% so với 21% của xe nhập khẩu. Nhà cung cấp linh kiện cho các hãng này chịu tác động trực tiếp, dù sản lượng ô tô cả nước 9 tháng vẫn tăng 24,8%. Số liệu của hiệp hội không gồm VinFast, hãng công bố lượng xe bàn giao 9 tháng tăng 72%.

4. Chi phí vốn. Trong điều tra quý II, hơn một nửa doanh nghiệp sản xuất kim loại đề nghị giảm lãi suất cho vay, tỷ lệ cao nhất toàn ngành chế biến chế tạo. Ở nhóm niêm yết, nợ vay GEE tăng 53,5% trong 6 tháng và lãi vay 6 tháng của PC1 vượt 380 tỷ đồng.

5. Giá thép trong nước đứng yên, giá thép Trung Quốc giảm. Giá thép xây dựng niêm yết ngày 13/10 không đổi so với tháng 9, và giá thép thanh kỳ hạn Trung Quốc cùng ngày xuống mức thấp nhất trong khoảng một tháng. Với doanh nghiệp đang giữ nhiều hàng tồn kho kim khí, đây là rủi ro giảm giá hàng tồn kho, ngược chiều với nhóm dùng đồng đang chịu rủi ro tăng giá đầu vào.

6. Phòng vệ thương mại. Cục Phòng vệ thương mại đang rà soát 67 mặt hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ có kim ngạch tăng nhanh, trong đó có thép, máy móc và thiết bị điện, để nhận diện nguy cơ chuyển tải bất hợp pháp. Với EU, cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon chuyển sang giai đoạn chính thức từ 1/1/2026: thép nhập khẩu vào EU bắt đầu phát sinh nghĩa vụ tài chính theo lượng phát thải.

7. Nguồn việc từ đường sắt đến muộn hơn kỳ vọng. Mốc khởi công đường sắt tốc độ cao đã lùi từ tháng 12/2026 sang tháng 12/2027, và tiến độ giải phóng mặt bằng có thể đẩy tiếp sang quý IV/2028. Doanh nghiệp đã đầu tư năng lực theo mốc cũ sẽ phải chịu thêm ít nhất một năm chi phí chờ việc.

Ba kịch bản từ nay đến cuối năm 2027

Kịch bảnDấu hiệu nhận biếtTác động tới cơ khí Việt Nam
Cơ sở — khả năng cao nhấtGDP toàn cầu 3,1% năm 2026 và 3,4% năm 2027 theo IMF; PMI Việt Nam giữ trên 50; chỉ số sản xuất công nghiệp cả năm tăng hai con số; chỉ số kim loại bình quân 2026 cao hơn 2025 khoảng 17% rồi giảm 7% năm 2027 theo dự báo tháng 4 của World Bank; đường sắt tốc độ cao khởi công tháng 12/2027.Nhu cầu thiết bị cơ điện, lưới điện và linh kiện trong nước tiếp tục tăng. Biên lợi nhuận chênh nhau tuỳ khả năng chuyển chi phí đầu vào sang giá bán. Đường sắt chưa đóng góp doanh thu trong kỳ.
Thuận lợiChỉ số đơn hàng xuất khẩu mới trong PMI trở lại trên 50 điểm ba tháng liên tiếp (tháng 9 vẫn dưới 50); giá đồng giảm ít nhất 10% so với đỉnh; hợp đồng xây lắp đường sắt được ký trước quý IV/2027 kèm danh mục sản phẩm đặt hàng doanh nghiệp Việt Nam; Hoà Phát cho ra sản phẩm ray đúng hạn quý I/2027.Mở ra nhu cầu về ray, phụ kiện, kết cấu nhà ga và toa xe. Biên lợi nhuận nhóm chế tạo cải thiện khi giá kim loại giảm trước giá bán.
Bất lợiGiá dầu Brent tiếp tục ở trên 100 USD một thùng (bình quân tháng 9 đã là 116,8 USD) hoặc chạm mức 130 USD trong kịch bản rủi ro của IMF; PMI Việt Nam dưới 50 hai tháng liên tiếp; xe nhập khẩu tiếp tục tăng nhanh hơn xe lắp ráp; Hoa Kỳ áp biện pháp phòng vệ thương mại với thép, máy móc của Việt Nam; mốc khởi công đường sắt tốc độ cao lùi sang quý IV/2028.Biên lợi nhuận gộp nhóm kết cấu và thiết bị điện thu hẹp mạnh; số doanh nghiệp âm dòng tiền kinh doanh tăng lên; tồn kho kim khí mất giá. Nhóm phụ thuộc một hãng lắp ráp duy nhất chịu rủi ro tập trung khách hàng.

Bảy chỉ tiêu doanh nghiệp nên tự soi hằng quý

Chỉ tiêuCâu hỏi tự soiMức quan sát được
Điều khoản điều chỉnh giá đầu vàoHợp đồng đầu ra của bạn có điều khoản điều chỉnh theo giá đồng, nhôm, thép chưa?Đồng tháng 9 cao hơn bình quân 2025 là 45,5%; World Bank (4/2026) dự báo bình quân 2026 của chỉ số kim loại cao hơn 2025 là 17%, rồi giảm 7% năm 2027
Chênh lệch giá vào so với giá raGiá bán của bạn tăng nhanh hơn hay chậm hơn giá nguyên vật liệu?9 tháng: nguyên vật liệu là sản phẩm chế biến chế tạo tăng 5,04%, giá bán sản phẩm chế biến chế tạo tăng 4,28%; giá bán sản phẩm kim loại tăng 6,27%
Chất lượng lợi nhuậnLợi nhuận quý đến từ bán hàng, hay từ thanh lý tài sản và doanh thu tài chính?VEAM 88% lợi nhuận từ liên doanh; SRF lãi từ thoái vốn; PC1 có doanh thu tài chính gấp 2,7 lần cùng kỳ
Dòng tiền kinh doanhÂm hay dương? Âm mấy quý liên tiếp?Trong ba doanh nghiệp có số dòng tiền: REE +2.600 tỷ; VEAM −187 tỷ và SRF −231 tỷ, cả hai đều vẫn báo lãi
Biên lợi nhuận gộp mảng cốt lõiBiên lợi nhuận gộp của bạn nằm ở đâu trong dải này?Dải rất rộng: SRF 6T 5,8% · SHI 6T 9,5% · VEAM 6T 15,1% · PC1 6T 22,2% · REE quý II khoảng 38%
Mức độ tập trung khách hàngKhách hàng lớn nhất chiếm bao nhiêu phần trăm doanh thu?Nhựa Hà Nội có 58,4% doanh thu năm 2024 từ một hãng lắp ráp duy nhất
Công suất sử dụng thiết bịBạn đang chạy bao nhiêu phần trăm công suất?Bình quân ngành chế biến chế tạo quý II là 75,5%, tăng so với quý I

Doanh nghiệp thương mại kim khí cần theo dõi thêm một chỉ tiêu nữa là số ngày quay vòng hàng tồn kho. Khi giá thép niêm yết trong nước không đổi so với tháng 9 và giá thép thanh Trung Quốc xuống mức thấp nhất khoảng một tháng, hàng tồn kho quay chậm dễ thành hàng tồn kho mất giá.

Nguồn dữ liệu và ghi chú phương pháp

Số liệu chốt ngày 14/10/2026. Kỳ số liệu mới nhất sử dụng: báo cáo kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng 2026 của Cục Thống kê công bố ngày 3/10; thông cáo giá quý III của Cục Thống kê; chỉ số PMI tháng 9 công bố ngày 1/10; báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới của IMF công bố ngày 13/10; World Bank Pink Sheet bản 2/10/2026; đơn hàng máy công cụ Nhật Bản tháng 9 do JMTBA công bố ngày 9/10; doanh số ô tô tháng 9 do VAMA công bố ngày 9–10/10; xuất nhập khẩu 9 tháng của Cục Hải quan; giá thép trong nước đến ngày 13/10; báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của các doanh nghiệp niêm yết, kỳ kế toán chốt 30/6. Tình trạng công bố báo cáo tài chính quý III, báo cáo tài chính quý II của LILAMA, số liệu 8–9 tháng của Hiệp hội Thép Việt Nam và báo cáo tháng 10 của World Bank được kiểm tra lại ngày 14/10/2026; các mục khác ghi chưa tìm được là kết quả tra cứu đến ngày 13/10/2026.

Nguồn hạng 1: Cục Thống kê, Cục Hải quan, Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Xây dựng, EVN, Hiệp hội Thép Việt Nam, VAMA, World Bank, IMF, OECD, JMTBA, VDMA, Cục Thống kê Trung Quốc, Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ.

Nguồn hạng 2, dùng bổ sung: S&P Global cho toàn bộ số liệu PMI; giá thép theo ngày và giá kim loại theo phiên; số liệu ngành thép quý III của Công ty Chứng khoán MB (MBS); Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI); Hiệp hội các nhà sản xuất máy công cụ Italy (UCIMU); số đơn hàng máy công cụ Nhật Bản tháng 8 dẫn qua nguồn trung gian; doanh số VinFast do doanh nghiệp công bố; báo cáo tài chính, số sơ bộ tại đại hội cổ đông và cơ cấu khách hàng của doanh nghiệp dẫn qua báo chí kinh tế.

Hạn chế dữ liệu. Không có chỉ số sản xuất công bố riêng cho nhóm máy móc, thiết bị ở bất kỳ kỳ nào trong năm 2026, nên mức tăng trưởng của khâu chế tạo máy chỉ đọc được gián tiếp qua các phân ngành lân cận. Chỉ số sản xuất 9 tháng của ngành thiết bị điện chưa có trong danh mục ngành trọng điểm kỳ này. Chỉ số giá sản xuất 9 tháng theo từng phân ngành chế biến chế tạo, ngoài sản phẩm kim loại, chưa tìm được. Số liệu thị phần nguồn cung máy móc theo từng nước mới nhất vẫn là kỳ 5 tháng; kỳ 9 tháng chỉ có số của Trung Quốc. Giá thép hình trong nước và số liệu máy nông nghiệp không có chuỗi theo tháng từ nguồn chính thống. Chưa có số tách riêng xe lắp ráp và nhập khẩu của tháng 8, và bốn thành viên không báo cáo trong tháng đó; số liệu VAMA không gồm VinFast và Hyundai Thành Công. Chưa tìm được báo cáo tài chính quý II/2026 của LILAMA tại ngày chốt; báo cáo tài chính quý III của các doanh nghiệp niêm yết chưa đến hạn công bố. Báo cáo triển vọng thị trường hàng hoá tháng 10 của World Bank chưa công bố tại ngày chốt, nên dự báo giá kim loại dùng bản tháng 4/2026. Doanh thu phân khúc dịch vụ cơ khí chưa có số liệu thống kê chính thức.

Số tự lập và số soát xét. Bảng doanh nghiệp dùng số báo cáo tài chính quý II do doanh nghiệp tự lập; riêng PC1 và SRF dùng số sau soát xét bán niên vì chênh lệch đáng kể. Lợi nhuận sau thuế 6 tháng của PC1 giảm từ 505,1 tỷ đồng xuống 477,6 tỷ đồng do trích lập thêm dự phòng phải thu khó đòi; của SRF tăng từ 10,75 tỷ đồng lên 15,21 tỷ đồng, và lợi nhuận gộp đổi từ lỗ 32,4 tỷ đồng sang lãi 37,6 tỷ đồng.

Số sơ bộ và hai nguồn cho hai số. Đơn hàng máy công cụ Nhật Bản tháng 8 và tháng 9 là số sơ bộ. Mốc lượng đơn hàng chưa giao vượt 1.000 tỷ yên được nguồn tin nêu là cuối tháng 8, trong khi bảng số của JMTBA ghi 1.009,1 tỷ yên ngay từ cuối tháng 7, nên bài chỉ nêu mức đã vượt 1.000 tỷ yên. VinFast công bố bàn giao 177.697 xe trong 9 tháng, trong khi cộng các tháng do doanh nghiệp công bố ra 181.482 xe; bài dùng số cộng dồn doanh nghiệp công bố. Số liệu chỉ số giá 9 tháng lấy từ thông cáo giá quý III của Cục Thống kê công bố ngày 3/10/2026. Thị phần 64,9% của máy Trung Quốc tự tính từ kim ngạch nhập khẩu máy móc từ Trung Quốc (35,0 tỷ USD) trên tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm này (53,95 tỷ USD). Sản lượng thép thô của Hiệp hội Thép Việt Nam (7 tháng, tăng 28%) và sản lượng sắt, thép thô của Cục Thống kê (9 tháng, tăng 13,3%) khác phạm vi và kỳ số liệu. Khối lượng việc chưa thực hiện của REE (ngày 30/6) và SRF (ngày 29/5) khác thời điểm và phạm vi hợp đồng, nên không dùng để so sánh hai doanh nghiệp.

Phạm vi đề cập. Với xung đột quốc tế và chính sách thương mại của nước khác, bản tin chỉ dẫn lại phần tác động kinh tế theo đánh giá của IMF, World Bank và OECD, ở mức cần thiết để giải thích diễn biến giá đầu vào và đơn hàng. Không bình luận nguyên nhân, trách nhiệm hay diễn biến của các sự kiện đó.

Đánh giá định tính. Cách phân chia 5 phân khúc, 3 kịch bản và 7 chỉ tiêu tự soi trong bản tin này là đánh giá của SME GROW AI trên cơ sở số liệu đã dẫn, không phải số liệu công bố.

Các kỳ trước

Bản tin này có hữu ích với bạn không?

Theo dõi bản tin

Để lại email một lần. Chúng tôi gửi bản tin ngay khi kênh phát hành qua email sẵn sàng.

Nhận phân tích