Chuyển tới nội dung chính

Phân tích ngành

Xây lắp Tháng 10/2026

Số liệu chốt 14/10/2026Kỳ sau: 14/11/2026

Ngành xây dựng quý III tăng nhanh nhất từ đầu năm, trong khi áp lực giá vật liệu chuyển từ thép sang xi măng và nhựa đường. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng quý III tăng 14,22% so với cùng kỳ, 9 tháng tăng 12,22%; giải ngân đầu tư công đến ngày 01/10 đạt 63,0% kế hoạch năm. Giá thép xây dựng không đổi từ cuối tháng 7, còn từ 23/9 đến 15/10 khoảng 23 doanh nghiệp và thương hiệu xi măng tăng giá 30.000 – 100.000 đồng một tấn.

Xây dựng 9 tháng tăng 12,22%, giải ngân đạt 63% kế hoạch

Giá trị tăng thêm ngành xây dựng+12,22%9 tháng 2026 · so với cùng kỳ

Riêng quý III tăng 14,22%. Theo số sơ bộ mới, quý II tăng 12,63% và 6 tháng tăng 11,03%.

Giải ngân đầu tư công63,0%kế hoạch năm · đến 01/10/2026

644.013,5 tỷ đồng trên kế hoạch Thủ tướng giao 1.022.607 tỷ. Mốc 03/9 đạt 50,2%, mốc 30/9 đạt 62,9%.

Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở+13,07%bình quân 9 tháng 2026 · so với cùng kỳ · nhóm trong CPI

Gần gấp ba mức tăng bình quân 4,52% của CPI chung. Riêng tháng 9 so với tháng trước chỉ tăng 0,07%.

Xây dựng quý III tăng 14,22%, nhựa đường và xi măng tăng giá

1 · Nhu cầu​

Diễn biến. Theo Cục Thống kê, giá trị tăng thêm ngành xây dựng quý III/2026 tăng 14,22% so với cùng kỳ, cao hơn mức 12,63% của quý II, đưa mức tăng 9 tháng lên 12,22%. GDP quý III tăng 9,95% và 9 tháng tăng 9,01%. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 661,8 nghìn tỷ đồng, tăng 19,0% so với cùng kỳ.

Theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công đến ngày 01/10/2026 đạt 644.013,5 tỷ đồng, bằng 63,0% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Riêng từ 31/8 đến 30/9, số vốn giải ngân thêm là 133,4 nghìn tỷ đồng. Hà Nội dẫn đầu với 115,7 nghìn tỷ đồng, tiếp đến là TP. Hồ Chí Minh với 104,2 nghìn tỷ đồng.

Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Bộ Tài chính. Trên kế hoạch Thủ tướng giao 1.022.607 tỷ đồng, số đến 01/10/2026

Nguồn việc mới đến từ ba hướng. Thứ nhất là cao tốc Vinh – Thanh Thuỷ, với gói XL05 trị giá 2.483,7 tỷ đồng và gói XL03 trên 5.196 tỷ đồng được trao cho các liên danh nhà thầu. Thứ hai là lưới điện: trong 9 tháng, EVN khởi công 136 công trình lưới điện và đóng điện 131 công trình. Thứ ba là nhà ở xã hội: cả nước còn 291 dự án với 331.242 căn đã được chấp thuận chủ trương đầu tư nhưng chưa khởi công.

Ở chiều ngược lại, thị trường nhà ở thương mại chậm lại. Theo Bộ Xây dựng, giao dịch bất động sản thành công trong quý III đạt khoảng 92.000 giao dịch, bằng 92% quý II.

Trên thế giới, hoạt động xây dựng phần lớn vẫn thu hẹp. PMI ngành xây dựng là chỉ số S&P Global khảo sát hằng tháng các giám đốc mua hàng của nhà thầu; trên 50 điểm nghĩa là hoạt động xây dựng mở rộng so với tháng trước, dưới 50 điểm là thu hẹp. S&P Global không phát hành chỉ số này cho Việt Nam.

PMI ngành xây dựng, tháng 9/2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: S&P Global; riêng Trung Quốc là số của Cục Thống kê Trung Quốc. Dưới 50 điểm là co hẹp, trên 50 là mở rộng. Trục bắt đầu từ 30 để thấy rõ khoảng cách quanh mốc 50

Khu vực đồng Euro ở mức 43,4 điểm, còn Đức giảm từ 48,7 xuống 43,5 điểm. PMI xây dựng của Trung Quốc tăng từ 46,9 lên 50,3 điểm, nhưng số thực chi lại đi chiều ngược lại: đầu tư hạ tầng 8 tháng vẫn giảm 4,0% và đầu tư phát triển bất động sản giảm 19,9% so với cùng kỳ. Tại Hoa Kỳ, chi tiêu xây dựng tháng 8 tăng 0,9% so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ 1,7%.

Dự báo. Từ ngày 01/10, phần vốn đầu tư công còn phải giải ngân là 378.593,5 tỷ đồng, tức bình quân khoảng 126,2 nghìn tỷ đồng mỗi tháng trong quý IV, thấp hơn mức 133,4 nghìn tỷ đồng đã đạt riêng trong tháng 9. Ba quy định cùng đẩy tiến độ trong quý IV. Thứ nhất, bộ công cụ chấm điểm giải ngân theo Quyết định 1129/QĐ-TTg áp dụng chính thức từ kỳ báo cáo tháng 10. Thứ hai, Nghị quyết 312/NQ-CP ngày 05/10 yêu cầu khẩn trương phân bổ chi tiết 19,58 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương còn lại, lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành và điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án giải ngân tốt. Thứ ba, Bộ Xây dựng chốt ngày 15/12/2026 là hạn cuối hoàn tất thủ tục điều chỉnh giảm hoặc chuyển vốn sang năm 2027.

Theo điều tra xu hướng kinh doanh của Cục Thống kê, 29,0% doanh nghiệp xây dựng dự báo hợp đồng quý IV tăng, 53,8% dự báo không đổi và 17,2% dự báo giảm.

Với cả nền kinh tế, IMF trong báo cáo ngày 13/10 dự báo Việt Nam tăng trưởng 8,4% năm 2026; ADB trong báo cáo tháng 9 dự báo 7,8%; World Bank trong báo cáo khu vực Đông Á – Thái Bình Dương ngày 06/10 dự báo 7,4%. Hiệp hội Thép Thế giới, trong dự báo công bố ngày 12/10, nêu khối lượng nhà ở và công trình thương mại đang thi công tại Việt Nam ở mức kỷ lục.

Với các dự án lớn, đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam vẫn giữ mốc phấn đấu khởi công tháng 12/2027. Với sân bay Long Thành, ACV đề xuất khai thác thương mại một phần từ ngày 24/12/2026, thay cho mốc 01/12 đặt ra trước đó.

2 · Nguồn cung​

Diễn biến. Sản xuất vật liệu cơ bản tăng mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng 12,3% so với cùng kỳ; sản lượng thép cán tăng 22,4%, thép thanh và thép góc tăng 17,1%. Theo số liệu thị trường xi măng đăng trên ximang.vn, sản lượng xi măng 8 tháng đạt trên 82 triệu tấn, tiêu thụ trong nước 57,37 triệu tấn; riêng tháng 8, tiêu thụ trong nước tăng 33% so với cùng kỳ trong khi xuất khẩu giảm 12%.

Khó khăn vẫn nằm ở đá và cát cho các dự án hạ tầng phía Nam. Thông báo kết luận thanh tra số 3490/TB-TTCP ngày 25/9 của Thanh tra Chính phủ về khoáng sản làm vật liệu xây dựng tại TP.HCM, Tây Ninh và Đồng Tháp nêu 3 dự án thiếu trên 3,86 triệu m³ đá và 2,77 triệu m³ cát, riêng dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận thiếu 2,72 triệu m³ đá và 2,77 triệu m³ cát.

Riêng ngành xây dựng, 9 tháng có 14.978 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 33,0% so với cùng kỳ, và 3.646 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 128,2%.

Về phía nhà thầu, điều kiện kinh doanh quý III tốt hơn kỳ vọng. Trong điều tra của Cục Thống kê, 30,9% doanh nghiệp xây dựng đánh giá quý III thuận lợi hơn quý II, cao hơn tỷ lệ 27,7% đánh giá khó khăn hơn. Các khó khăn được nêu nhiều nhất là giá nguyên vật liệu tăng cao (65,0% doanh nghiệp), thiếu hợp đồng xây dựng mới (39,7%), thời tiết không thuận lợi (26,1%) và nợ đọng xây dựng cơ bản (25,5%).

Dự báo. Doanh nghiệp xây dựng kỳ vọng quý IV ổn định thay vì tăng tốc: 28,1% dự báo thuận lợi hơn, 44,7% giữ ổn định và 27,2% khó khăn hơn.

3 · Giá​

Diễn biến. Giá hàng hoá đầu vào trên thế giới tháng 9 phần lớn cao hơn nhiều so với bình quân năm 2025, mạnh nhất là năng lượng.

Giá bình quân tháng 9/2026 so với bình quân năm 2025
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: World Bank Pink Sheet bản 02/10/2026. Tỷ lệ tự tính từ hai mức giá bình quân

Dầu Brent bình quân tháng 9 đạt 116,8 USD một thùng, từ 90,9 USD của tháng 8; giá giao ngay ngày 02/10 lên 135,51 USD, rồi về 125,44 USD ngày 06/10. Than đá tháng 9 đạt 147,1 USD một tấn, mức cao nhất từ đầu năm. Kẽm, nguyên liệu mạ của tôn và thép mạ kẽm, lên 4.021 USD một tấn. Ngược lại, quặng sắt tháng 9 là 97,7 USD một tấn khô, thấp hơn bình quân năm 2025 là 2,5%.

Trong nước, giá thép xây dựng không đổi từ đợt điều chỉnh cuối tháng 7; dải giá niêm yết ngày 14/10 vẫn là 13.840 – 15.150 đồng một ki-lô-gam, như giữa tháng 9. Xi măng có đợt tăng giá mới từ 23/9 đến 15/10, mức 30.000 – 100.000 đồng một tấn. Nhựa đường tăng mạnh nhất: theo hợp đồng và báo giá thực tế của nhà thầu do Báo Đấu thầu dẫn ngày 07/10, nhựa đường MC70 tăng từ 26.900 lên 32.000 đồng một ki-lô-gam trong khoảng tháng 6 đến tháng 9.

Chỉ số giá tiêu dùng nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở bình quân 9 tháng tăng 13,07% so với cùng kỳ, gần gấp ba mức tăng 4,52% của CPI chung; riêng tháng 9 chỉ tăng 0,07% so với tháng trước.

Dự báo. Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), trong báo cáo ngày 06/10, nâng dự báo giá dầu Brent bình quân lên 96 USD một thùng năm 2026 và 84 USD năm 2027, riêng quý IV/2026 là 105 USD. Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam dự báo trong quý IV giá thép tăng khoảng 3 – 5% do giá phôi, xi măng ổn định, còn cát và đá giữ ở mức cao.

Hạ tầng nhiều việc nhất, dân dụng thêm rủi ro chậm thu tiền

Hạ tầng giao thông​

Cao tốc, cầu, đường, sân bay · còn 378.593,5 tỷ đồng vốn đầu tư công phải giải ngân trong 3 tháng cuối năm.

Phân khúc này gắn trực tiếp nhất với tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Cao tốc Bến Lức – Long Thành thông xe toàn tuyến từ ngày 01/10/2026, còn đường Vành đai 2.5 Hà Nội thông xe kỹ thuật một số đoạn ngày 10/10. Gói XL05 cao tốc Vinh – Thanh Thuỷ trị giá 2.483,7 tỷ đồng áp dụng đơn giá điều chỉnh cho phần xây lắp, tức giá hợp đồng được điều chỉnh theo biến động giá vật liệu.

Hai khó khăn được nêu đích danh trong kỳ là thiếu đá, cát ở phía Nam và khan hiếm nhựa đường. Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Long Thành, đạt gần 73% sản lượng, cho biết nguồn nhựa đường chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu trong giai đoạn nước rút; cùng với đó là thiếu nhân lực và một số địa phương chậm công bố chỉ số giá xây dựng, làm khó việc điều chỉnh giá hợp đồng.

Xây lắp điện và năng lượng​

Lưới điện, nhà máy điện, phần cơ điện công trình · EVN khởi công 136 công trình lưới điện trong 9 tháng.

EVN đóng điện 131 công trình lưới điện trong 9 tháng, hoàn thành 205 MW pin lưu trữ và đang làm thủ tục đầu tư thêm 850 MW. Tổ máy 2 nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I đã hoà đồng bộ ngày 28/9. Giá dịch vụ lắp đặt hệ thống điện và cấp thoát nước 9 tháng tăng 8,85%, cao nhất trong các nhóm dịch vụ xây dựng chuyên dụng của chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu mà Cục Thống kê công bố.

Chi phí kim loại vẫn là điểm cần theo dõi: đồng bình quân tháng 9 đạt 14.474 USD một tấn, cao hơn bình quân năm 2025 là 45,5%, còn kẽm cao hơn 40,2%.

Hạ tầng khu công nghiệp và nhà xưởng​

Nhà xưởng, hạ tầng khu và cụm công nghiệp · vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 9 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%.

Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký 9 tháng đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ. Ngân hàng Nhà nước cho biết dư nợ tăng thêm cho khu công nghiệp, khu chế xuất và nhà ở xã hội được loại khỏi phần kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản trong năm 2026. VIS Rating, trong báo cáo triển vọng công bố ngày 13/10, đánh giá triển vọng ổn định cho nhóm phát triển khu công nghiệp.

Dân dụng và nhà ở xã hội​

Chung cư, nhà ở riêng lẻ, nhà ở xã hội · giao dịch bất động sản quý III bằng 92% quý II.

Theo Bộ Xây dựng, tồn kho bất động sản do chủ đầu tư báo cáo tại 27 trên 34 tỉnh, thành đến quý III là khoảng 51.950 căn hộ, lô đất. Trong báo cáo triển vọng công bố ngày 13/10, VIS Rating đánh giá môi trường tín nhiệm 12 tháng tới sẽ suy yếu, so với mức ổn định dự báo ở nửa đầu năm, trong đó triển vọng của nhóm bất động sản nhà ở giảm.

Nhà ở xã hội vẫn là nguồn việc có bên thanh toán ổn định hơn: 9 tháng hoàn thành 46.962 căn, còn 291 dự án đã chấp thuận chủ trương chưa khởi công; lãi suất vay ưu đãi là 7%/năm cho chủ đầu tư và 6,5%/năm cho người mua.

Thương mại vật liệu xây dựng​

Đại lý thép, xi măng, nhựa đường, vật tư hoàn thiện · xi măng tăng giá từ 23/9, thép giữ giá từ cuối tháng 7.

Diễn biến giá kỳ này tách nhóm thương mại vật liệu làm hai. Đại lý xi măng và nhựa đường có giá bán tăng theo đợt điều chỉnh của nhà sản xuất. Đại lý thép giữ giá bán không đổi hơn hai tháng rưỡi.

Chi phí vốn ngắn hạn biến động mạnh: lãi suất liên ngân hàng qua đêm xuống dưới 1% trong những ngày cuối tháng 9 và đầu tháng 10, rồi tăng trở lại khoảng 4,8% ngày 13/10. Tỷ giá trung tâm ngày 14/10 là 25.646 đồng một đô-la Mỹ.

Sản phẩm dầu mỏ tăng 26,18%, giá dịch vụ xây dựng tăng 3,79%

Ba nguồn số liệu cho thấy chi phí đầu vào của nhà thầu tăng không đều giữa các nhóm vật liệu, và nhanh hơn giá dịch vụ xây dựng.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, 9 tháng 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Cục Thống kê, % so với cùng kỳ. Các nhóm gắn với xây lắp: hai thanh đậm là vật liệu, bốn thanh nhạt là dịch vụ xây dựng chuyên dụng

Thứ nhất, số liệu thống kê giá. Trong chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất của Cục Thống kê, nhóm sản phẩm từ chế biến dầu mỏ, gồm nhựa đường và nhiên liệu, 9 tháng tăng 26,18% so với cùng kỳ; cấu kiện kim loại tăng 9,65%. Cũng trong chỉ số này, giá dịch vụ xây dựng chuyên dụng chỉ tăng 3,79%, trong đó dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, cấp thoát nước tăng 8,85%.

Thứ hai, giá vật liệu trong nước.

Vật liệuMức trướcMức mớiThay đổiNguồn
Thép xây dựngdải 13.840 – 15.150 đồng/kgkhông đổi đến 14/100bảng giá niêm yết của các nhà máy
Xi măng—tăng từ 23/9 đến 15/10+30.000 đến +100.000 đồng/tấnthông báo của doanh nghiệp
Nhựa đường MC7026.900 đồng/kg (tháng 6)32.000 đồng/kg (tháng 9)+19,0%Báo Đấu thầu, 07/10
Nhũ tương CSS-1H15.600 đồng/kg (tháng 6)19.700 đồng/kg (tháng 9)+26,3%Báo Đấu thầu, 07/10
Bê tông nhựa nóng C191,350 triệu đồng/tấn (tháng 6)1,575 triệu đồng/tấn (tháng 9)+16,7%Báo Đấu thầu, 07/10
Đơn giá gia công rải thảm80.000 đồng/tấn80.000 đồng/tấn0Báo Đấu thầu, 07/10

Đợt tăng giá xi măng có quy mô rộng, gồm nhóm VICEM, nhóm tư nhân lớn và nhóm vốn nước ngoài. Các đơn vị thuộc VICEM tăng 70.000 đồng một tấn với xi măng bao và 100.000 đồng một tấn với xi măng rời, hiệu lực trong khoảng 01/10 đến 05/10. Doanh nghiệp nêu lý do là chi phí clinker, than, thạch cao, dầu, bao bì và vận chuyển tăng. Với thảm bê tông nhựa, đơn giá gia công không đổi trong khi vật liệu tăng 16 – 26%.

Thứ ba, đánh giá của chính doanh nghiệp. Trong điều tra quý III của Cục Thống kê, 65,0% doanh nghiệp xây dựng nêu giá nguyên vật liệu tăng cao là khó khăn, giảm từ 70,3% của quý II; 49,0% ghi nhận chi phí nhân công trực tiếp tăng trong quý III. Kiến nghị được nêu nhiều nhất là hỗ trợ nguyên vật liệu xây dựng, với 61,8% doanh nghiệp.

Về lãi suất và tín dụng: lãi suất điều hành không đổi trong kỳ. Tín dụng toàn hệ thống đến ngày 30/9 tăng 11,59% so với cuối năm 2025, dư nợ đạt 20,75 triệu tỷ đồng.

Soát xét làm lợi nhuận thay đổi, tiền vẫn nằm ở phải thu

Bảng dưới tổng hợp kết quả hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 của các doanh nghiệp xây lắp niêm yết, theo báo cáo tài chính bán niên đã soát xét. Báo cáo tài chính quý III chưa đến hạn công bố.

Doanh nghiệpPhân khúcDoanh thu 6TLợi nhuận sau thuế 6TBiên lợi nhuận gộp quý II
VCG VinaconexDân dụng, hạ tầng7.240 tỷ · +3,7%644 tỷ · +35%9,1%
CC1 Tổng công ty Xây dựng số 1Dân dụng, hạ tầng6.464 tỷ · +31,1%81,9 tỷ · +118,9%lỗ gộp
PC1Xây lắp điện4.206 tỷ · −12,3%477,6 tỷ · +54%23,0%
HBC Xây dựng Hoà BìnhDân dụng3.260 tỷ · +99,2%50,0 tỷ · −2,6%11,4%
FCN FeconNền móng, hạ tầng3.213 tỷ · +49,7%79,2 tỷ—
DPG Đạt PhươngHạ tầng, dân dụng2.355 tỷ · +41,1%227,1 tỷ · +11,0%10,0%
HHV Hạ tầng Giao thông Đèo CảHạ tầng, thu phí BOT1.877 tỷ · +11,6%389,2 tỷ · +20%—
CII Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCMHạ tầng, thu phí BOT1.584 tỷ · +11,0%95,6 tỷ61,8%
C4G Cienco 4Hạ tầng giao thông1.213 tỷ · −18,9%22,1 tỷ12,0%
LCG LizenHạ tầng giao thông1.163 tỷ · +0,3%50,7 tỷ9,3%
PHC Phục Hưng HoldingsDân dụng1.059 tỷ · +92,3%8,5 tỷ5,3%
TV2 Tư vấn Xây dựng Điện 2Tư vấn, xây lắp điện682 tỷ · +32,3%102,3 tỷ14,1%

Coteccons (CTD) có niên độ tài chính từ 01/7 đến 30/6 nên không đưa vào bảng. Theo báo cáo đã kiểm toán của niên độ kết thúc ngày 30/6/2026, doanh nghiệp đạt doanh thu 34.340 tỷ đồng, tăng 38%, và lợi nhuận sau thuế 788 tỷ đồng, tăng 73%.

Ba điểm đáng chú ý hơn mức tăng doanh thu:

Soát xét làm lợi nhuận thay đổi, theo cả hai chiều. Lợi nhuận sau thuế 6 tháng của Vinaconex tăng từ 597 tỷ đồng ở báo cáo tự lập lên 644 tỷ đồng sau soát xét, do giảm trích lập dự phòng phải thu khó đòi. Của PC1 thì giảm từ 505,1 xuống 477,6 tỷ đồng, do trích lập thêm dự phòng phải thu khó đòi. Lợi nhuận của Searefico tăng từ 10,75 lên 15,21 tỷ đồng nhờ ghi nhận việc bán toàn bộ phần vốn tại Arico. Riêng quý II, Tổng công ty Xây dựng số 1 lỗ gộp 93,9 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế 6 tháng vẫn đạt 81,9 tỷ đồng nhờ lãi chuyển nhượng khoản đầu tư.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 6 tháng 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất 6 tháng 2026 do doanh nghiệp công bố, đơn vị: tỷ đồng

Tiền nằm ở phải thu và công trình dở dang. Vinaconex âm 1.315 tỷ đồng dòng tiền kinh doanh 6 tháng, CII âm 846 tỷ đồng. Tại Coteccons, báo cáo của Ban kiểm soát trong tài liệu đại hội cổ đông công bố ngày 25/9 nêu hàng tồn kho tăng 66% lên 9.906 tỷ đồng và chi phí lãi vay tăng lên khoảng 351 tỷ đồng, đồng thời lưu ý chi phí dự án chưa được nghiệm thu hoặc chưa xuất hoá đơn đang gây áp lực lên dòng tiền; dòng tiền kinh doanh của niên độ dương 829 tỷ đồng. Tại Hoà Bình, báo cáo soát xét bán niên có kết luận ngoại trừ liên quan đến việc ghi nhận doanh thu xây lắp.

Nhiều doanh nghiệp tìm thêm vốn. Ngày 18/9, Hoà Bình hoàn tất phát hành 51,4 triệu cổ phiếu để hoán đổi khoảng 514,19 tỷ đồng nợ với 99 chủ nợ, giá hoán đổi 10.000 đồng một cổ phiếu, trong khi giá giao dịch trên sàn UPCoM trong nửa đầu tháng 10 ở mức 2.900 – 3.400 đồng. Ngày 12/10, CII chuyển 300 tỷ đồng từ khoản góp vốn vào dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận sang trả nợ gốc trái phiếu đáo hạn ngày 14/10; dư nợ trái phiếu của doanh nghiệp tại 30/9 là 7.888 tỷ đồng. PC1 đang triển khai ba phương án tăng vốn đã được đại hội cổ đông thông qua ngày 22/4, trong đó có đợt chào bán khoảng 74 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến thu khoảng 1.481 tỷ đồng.

Hợp đồng mới trong kỳ:

Doanh nghiệpGói thầuGiá trịGhi chú
VCGXL05 cao tốc Vinh – Thanh Thuỷ2.483,7 tỷ đồng (cả gói)liên danh 4 thành viên, chỉ định thầu, đơn giá điều chỉnh; phần của VCG chưa công bố
C4GXL03 cao tốc Vinh – Thanh Thuỷ5.196,8 tỷ đồng (cả gói)liên danh 10 thành viên; phần của C4G chưa công bố
DPGXL-02 đường kết nối sân bay Gia Bìnhphần của DPG 1.217 tỷ đồngtổng gói 10.253 tỷ đồng
DPGĐúc dầm, lao dầm đường sắt Hà Nội – Quảng Ninhphần của DPG 917,6 tỷ đồngtổng gói 2.294 tỷ đồng
HHVXL02 cao tốc Quy Nhơn – Pleiku613,8 tỷ đồng (dự kiến)bên giao thầu là công ty mẹ

Hạ tầng Giao thông Đèo Cả (HHV) là doanh nghiệp duy nhất công bố số 9 tháng, tại buổi gặp nhà phân tích ngày 12/10: doanh thu 2.978 tỷ đồng, tăng 15%, lợi nhuận sau thuế 564 tỷ đồng, tăng 18%. Số này là số ước tính, chưa phải báo cáo tài chính, và 62% doanh thu đến từ thu phí BOT chứ không phải xây lắp.

Điều đáng rút ra cho doanh nghiệp làm thầu phụ hoặc cung cấp vật liệu: với nhà thầu chính, khối lượng đã thi công nhưng chưa được nghiệm thu nằm ở hàng tồn kho, chưa thành tiền. Khi doanh thu phụ thuộc vào một nhà thầu chính, theo dõi hàng tồn kho dở dang, phải thu và các đợt huy động vốn của họ cũng cần thiết như theo dõi tiến độ công trình.

Bảy rủi ro cần theo dõi đến hết quý I/2027

1. Hợp đồng trọn gói, ký trước khi nhựa đường và xi măng tăng giá. Nhựa đường MC70 tăng 19% và nhũ tương tăng 26,3% từ tháng 6 đến tháng 9, trong khi đơn giá gia công rải thảm không đổi. Xi măng tăng 30.000 – 100.000 đồng một tấn từ 23/9. Nghị định 210/2026/NĐ-CP cho phép điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng; hợp đồng trọn gói không có điều khoản điều chỉnh thì phần tăng này nằm trọn ở nhà thầu.

2. Thiếu đá và cát cho hạ tầng phía Nam. 3 dự án được thanh tra thiếu trên 3,86 triệu m³ đá và 2,77 triệu m³ cát, riêng dự án mở rộng cao tốc TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận thiếu 2,72 triệu m³ đá.

3. Giá dầu chưa hạ. Brent giao ngay lên 135,51 USD một thùng ngày 02/10, và EIA dự báo bình quân quý IV là 105 USD. Nhựa đường, nhiên liệu thi công và cước vận chuyển đều đi theo giá dầu.

4. Công nợ của nhà thầu chính. Hàng tồn kho của Coteccons tăng 66% lên 9.906 tỷ đồng, Vinaconex và CII âm dòng tiền kinh doanh 6 tháng, và 25,5% doanh nghiệp xây dựng nêu nợ đọng xây dựng cơ bản là khó khăn trong quý III.

5. Bất động sản. Giao dịch bất động sản quý III bằng 92% quý II, và VIS Rating đánh giá triển vọng tín nhiệm của nhóm bất động sản nhà ở trong 12 tháng tới giảm.

6. Hạn chót 15/12 cho thủ tục điều chỉnh vốn. Theo chỉ đạo của Bộ Xây dựng ngày 03/10, dự án cần điều chỉnh giảm hoặc chuyển vốn sang năm 2027 phải hoàn tất thủ tục trước 15/12/2026, và vốn dư do tiết kiệm đấu thầu, dự phòng không dùng hết hoặc quyết toán thấp hơn không được kéo dài sang năm sau.

7. Mưa lũ cuối năm. 26,1% doanh nghiệp xây dựng nêu thời tiết không thuận lợi là khó khăn trong quý III, lần đầu yếu tố này xuất hiện trong điều tra. Trong tuần 10 – 12/10, mưa lũ gây sạt lở tại Quảng Trị và Thanh Hoá, và Bộ Xây dựng yêu cầu rà soát an toàn tại các công trình đang thi công.

Ba kịch bản từ nay đến hết quý I/2027

Kịch bảnDấu hiệu nhận biếtTác động tới nhà thầu
Cơ sở — khả năng cao nhấtGiải ngân cả năm đạt 88 – 95% kế hoạch; Brent ở vùng 100 – 115 USD/thùng trong quý IV; giá thép tăng không quá 5% trong quý IV; tỷ lệ trái phiếu chậm trả giữ dưới 0,3%.Nhà thầu hạ tầng có quý IV nhiều khối lượng được nghiệm thu nhất năm; quý I/2027 ít việc hơn khi kế hoạch vốn mới chưa phân bổ xong. Nhà thầu dân dụng tiếp tục chịu áp lực phải thu.
Thuận lợiGiải ngân vượt 95%; Brent về dưới 100 USD/thùng; giá nhựa đường trong nước giảm về mức tháng 6/2026; cơ chế điều phối đá, cát liên vùng được ban hành và áp dụng.Biên lợi nhuận của nhóm hạ tầng cải thiện; đại lý xi măng và nhựa đường có lãi trên hàng tồn kho.
Bất lợiBrent duy trì trên 125 USD/thùng hoặc chạm mức 130 USD trong kịch bản rủi ro của IMF; thiếu đá, cát kéo giải ngân xuống dưới 85%; tỷ lệ trái phiếu chậm trả tăng trở lại.Nhóm thảm bê tông nhựa theo hợp đồng trọn gói chịu tác động sớm nhất; nhóm dân dụng có biên lợi nhuận mỏng và nhóm vay nợ nhiều chịu tác động tiếp theo.

Bảy chỉ tiêu doanh nghiệp nên tự soi hằng quý

Chỉ tiêuCâu hỏi tự soiMức quan sát được
Điều khoản điều chỉnh giá vật liệuHợp đồng của bạn có điều chỉnh theo giá nhựa đường, xi măng, thép chưa?Nhựa đường MC70 +19% từ tháng 6 đến tháng 9; xi măng +30.000 đến +100.000 đồng/tấn từ 23/9; thép không đổi từ cuối tháng 7
Nguồn đá, cát, nhựa đườngĐã chốt nguồn cung trước khi cam kết tiến độ chưa?3 dự án phía Nam thiếu trên 3,86 triệu m³ đá và 2,77 triệu m³ cát
Khối lượng chờ nghiệm thuChi phí dở dang có tăng nhanh hơn doanh thu không?Hàng tồn kho của Coteccons tăng 66% lên 9.906 tỷ đồng
Phải thu trên tổng tài sảnCủa bạn nằm ở đâu trong dải này?Nhóm niêm yết dao động 31 – 65% theo báo cáo quý II
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanhÂm hay dương? Âm mấy quý liên tiếp?Vinaconex âm 1.315 tỷ đồng, CII âm 846 tỷ đồng trong 6 tháng
Chất lượng lợi nhuậnLợi nhuận đến từ thi công, hay từ dự phòng, chuyển nhượng vốn?Vinaconex tăng lãi nhờ giảm trích lập dự phòng; CC1 lỗ gộp quý II nhưng có lãi nhờ chuyển nhượng đầu tư
Hồ sơ thanh toán trước 15/12Khối lượng hoàn thành đã lập hồ sơ thanh toán chưa?Nghị quyết 312/NQ-CP yêu cầu lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành

Nguồn dữ liệu và ghi chú phương pháp

Số liệu chốt ngày 14/10/2026. Kỳ số liệu mới nhất sử dụng: báo cáo kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng 2026 cùng biểu số liệu kèm theo, thông cáo giá quý III và điều tra xu hướng kinh doanh quý III của Cục Thống kê công bố ngày 03/10; số giải ngân đầu tư công của Bộ Tài chính đến 01/10; số liệu nhà ở xã hội và thị trường bất động sản quý III do Bộ Xây dựng công bố ngày 13/10; Thông báo kết luận thanh tra số 3490/TB-TTCP ngày 25/9 của Thanh tra Chính phủ; World Bank Pink Sheet bản 02/10/2026; báo cáo triển vọng năng lượng ngắn hạn của EIA ngày 06/10; PMI ngành xây dựng tháng 9; giá vật liệu trong nước đến ngày 14/10; báo cáo tài chính bán niên 2026 đã soát xét của các doanh nghiệp niêm yết.

Nguồn hạng 1: Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ, EVN, World Bank, ADB, EIA, US Census Bureau, Cục Thống kê Trung Quốc, Hiệp hội Thép Thế giới (worldsteel).

Nguồn hạng 2, dùng bổ sung: S&P Global cho số liệu PMI; VIS Rating; Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam; số liệu thị trường xi măng đăng trên ximang.vn; giá vật liệu theo báo giá và thông báo của doanh nghiệp; giá nhựa đường và bê tông nhựa nóng theo Báo Đấu thầu ngày 07/10/2026; báo cáo tài chính, tài liệu đại hội cổ đông và công bố thông tin của doanh nghiệp, một phần dẫn qua báo chí kinh tế.

Hạn chế dữ liệu. Giá nhựa đường, nhũ tương và bê tông nhựa nóng hiện chỉ có một nguồn công bố con số cụ thể. Chỉ số giá xây dựng quý III của các Sở Xây dựng chưa công bố tại ngày chốt; kỳ mới nhất là quý II. Số liệu thép 8 tháng và 9 tháng của Hiệp hội Thép Việt Nam, xi măng 9 tháng và xuất nhập khẩu sắt thép 9 tháng theo mặt hàng chưa có. Báo cáo triển vọng thị trường hàng hoá tháng 10 của World Bank chưa công bố. Báo cáo tài chính quý III của doanh nghiệp niêm yết chưa đến hạn công bố.

Số tự lập và số soát xét. Doanh thu và lợi nhuận trong bảng doanh nghiệp là số sau soát xét bán niên. Biên lợi nhuận gộp quý II lấy từ báo cáo tài chính quý II do doanh nghiệp tự lập, vì báo cáo soát xét không tách số theo quý. Lợi nhuận của CII là lợi nhuận sau thuế hợp nhất; phần của cổ đông công ty mẹ là 32,7 tỷ đồng.

Số tự tính. Khoảng 23 doanh nghiệp và thương hiệu xi măng tăng giá là số đếm từ các thông báo tăng giá đăng trên ximang.vn ngày 28 – 30/9. Phần vốn còn phải giải ngân 378.593,5 tỷ đồng bằng kế hoạch 1.022.607 tỷ đồng trừ số đã giải ngân 644.013,5 tỷ đồng đến 01/10; chia đều cho 3 tháng được khoảng 126,2 nghìn tỷ đồng mỗi tháng. Số giải ngân riêng tháng 9 là 133,4 nghìn tỷ đồng, bằng số đến 30/9 (642.961,6 tỷ đồng) trừ số đến 31/8 (509.557,5 tỷ đồng). Các tỷ lệ trong biểu đồ giá thế giới tự tính từ giá bình quân tháng 9 và bình quân năm 2025 trong cùng bản Pink Sheet.

Những con số không nối với kỳ trước. Cục Thống kê đã điều chỉnh số sơ bộ của ngành xây dựng: 6 tháng từ 9,51% lên 11,03%, quý II từ 10,28% lên 12,63%; các số trong bài là số đã điều chỉnh. Thẻ chi phí kỳ 14/09 dùng mức tăng của riêng tháng 8 so với cùng kỳ (13,39%); kỳ này dùng mức tăng bình quân 9 tháng (13,07%), là hai chỉ tiêu khác loại. Mức thiếu hụt đá, cát kỳ này lấy từ kết luận thanh tra trên 4 dự án tại 3 địa phương, khác phạm vi 5 dự án trong công bố ngày 11/9 mà kỳ trước dẫn. Tồn kho bất động sản quý III tính trên 27 tỉnh, thành báo cáo, quý II trên 25 tỉnh, thành, nên không so sánh hai quý. Bộ Tài chính đo giải ngân thanh toán, Cục Thống kê đo vốn đầu tư thực hiện; hai tỷ lệ phần trăm nói hai chuyện.

Phạm vi đề cập. Với xung đột quốc tế, bản tin chỉ dẫn lại phần tác động kinh tế theo đánh giá của IMF, World Bank và EIA, ở mức cần thiết để giải thích diễn biến giá đầu vào. Với doanh nghiệp, bản tin chỉ dẫn nội dung đã có trong báo cáo tài chính, tài liệu đại hội cổ đông và công bố thông tin. Không bình luận nguyên nhân, trách nhiệm hay diễn biến của các sự kiện đó.

Đánh giá định tính. Cách phân chia 5 phân khúc, 3 kịch bản và 7 chỉ tiêu tự soi trong bản tin này là đánh giá của SME GROW AI trên cơ sở số liệu đã dẫn, không phải số liệu công bố.

Các kỳ trước

Bản tin này có hữu ích với bạn không?

Theo dõi bản tin

Để lại email một lần. Chúng tôi gửi bản tin ngay khi kênh phát hành qua email sẵn sàng.

Nhận phân tích