Chuyển tới nội dung chính

Xây lắp

Ngành xây lắp Việt Nam đang ở đầu chu kỳ tăng trưởng về khối lượng việc nhưng vùng đáy về chất lượng lợi nhuận. Khối lượng được bảo đảm bằng cam kết vốn trung hạn 8,22 triệu tỷ đồng và chương trình hạ tầng khoảng 320 tỷ USD giai đoạn 2026–2030, giữa lúc Trung Quốc, Hoa Kỳ và châu Âu đều suy giảm. Nhưng biên lợi nhuận nhà thầu bị bào mòn và dòng tiền lệch pha.

Ba con số định hình quý này

Cầu mạnh, tiền chậm, biên mỏng — ba mặt của cùng một chu kỳ.

Giá trị tăng thêm ngành xây dựng9,51% (tăng)6 tháng 2026 · cao nhất ASEAN

Riêng quý II tăng 10,28%. Trung Quốc, Hoa Kỳ và châu Âu đều suy giảm cùng kỳ.

Giải ngân đầu tư công42,7% (giảm)kế hoạch, đến 06/08/2026

Còn khoảng 580.780 tỷ đồng phải giải ngân trong gần 5 tháng. Nền 2025 là 83,7%.

Biên lợi nhuận gộp toàn ngành10% (giảm)quý II/2026 · nhà thầu thuần 5–9%

Doanh thu 100 doanh nghiệp niêm yết tăng 12%, lợi nhuận tăng 52% nhưng chủ yếu từ nền so sánh thấp và hoạt động tài chính.

Nội dung chính

Ba mặt của ngành trong quý này: cầu, cung và giá.

1 · Cầu

Diễn biến. Giá trị tăng thêm ngành xây dựng 6 tháng 2026 tăng 9,51% so cùng kỳ, riêng quý II tăng 10,28%. Kế hoạch vốn đầu tư công 2026 là 1.014.234,2 tỷ đồng; kế hoạch trung hạn 2026–2030 là 8,22 triệu tỷ đồng. Vốn thực hiện từ ngân sách 7 tháng đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,4%.

Hợp đồng xây dựng mới đã chuyển sang tăng: chỉ số cân bằng quý II là +5,9% sau khi âm 18,3% trong quý I. Vốn FDI thực hiện 7 tháng đạt 15,20 tỷ USD — cao nhất 5 năm.

Dự báo. Chính phủ đặt mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn 2026. Bộ Xây dựng đặt mục tiêu tăng trưởng khu vực xây dựng 14,5%/năm giai đoạn 2026–2030. Doanh nghiệp dự báo hợp đồng mới quý III tiếp tục cải thiện, chỉ số cân bằng +11,6%.

2 · Cung

Diễn biến. Nguồn cung vật liệu cơ bản dồi dào: sản xuất thép thô 7 tháng 17,92 triệu tấn, tăng 28,0%; xi măng sản xuất 70,25 triệu tấn, ngành vẫn dư cung lớn.

Điểm nghẽn nằm ở cát, đá và vật liệu san lấp, mang tính cục bộ do phân bố không đều. Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu và cơ chế điều phối liên vùng, hoàn thành trong tháng 10/2026.

Năng lực nhà thầu còn dư địa: 49,9% doanh nghiệp hoạt động dưới 70% công suất trong quý II. Nhưng doanh nghiệp xây dựng giải thể tăng 128,5% so cùng kỳ trong 7 tháng.

Dự báo. Nguồn cung vật liệu cơ bản đủ, nhưng thiếu hụt cục bộ cát đá còn kéo dài tới khi cơ chế điều phối liên vùng đi vào hoạt động. Áp lực lao động tăng khi các đại dự án đồng loạt khởi công.

3 · Giá

Diễn biến. Chỉ số giá xây dựng Hà Nội quý II tăng mạnh nhất ở công trình đường, cầu (+6,75%) so quý I. Theo vật liệu: diesel tăng 27,10%, cát xây dựng tăng 5,83%, thép tăng 5,00%, riêng nhựa đường giảm 6,99%.

Giá thép xây dựng bình quân quý II là 16.575 đồng/kg, tăng 9,42% so cùng kỳ; đã điều chỉnh 5 đợt từ đầu năm, đợt gần nhất 26–29/07/2026. Không có đợt điều chỉnh nào trong 01–20/08/2026.

70,3% doanh nghiệp xây dựng coi giá vật liệu là khó khăn số một, hai quý liên tiếp gần như không đổi.

Dự báo. Mặt bằng chi phí đầu vào dự kiến còn cao, chỉ số cân bằng chi phí nguyên vật liệu quý III +46,7%. Thép và xi măng khó tăng mạnh do nguồn cung nội địa mở rộng; cát, đá và nhựa đường là ẩn số lớn nhất do trùng cao điểm giải ngân quý IV.

Việt Nam tăng tốc trong lúc thế giới co hẹp

Cầu xây dựng thế giới năm 2026 không tăng đồng đều mà dịch chuyển: rời khỏi nhà xưởng và bất động sản nhà ở, chuyển sang hạ tầng điện, trung tâm dữ liệu và hạ tầng quốc phòng.

Tăng trưởng hoạt động xây dựng theo nền kinh tế
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Cơ quan thống kê từng nước, kỳ gần nhất của mỗi nước, % so cùng kỳ

Hai hàm ý trái chiều cho doanh nghiệp Việt Nam. Cầu vật liệu toàn cầu yếu giúp kiềm chế giá thép và xi măng nhập khẩu — năng lực dư thừa thép thế giới năm 2025 là 640 triệu tấn, dự kiến 745 triệu tấn năm 2028. Nhưng cầu xây dựng yếu ở Trung Quốc và EU làm tăng áp lực cạnh tranh xuất khẩu và rủi ro phòng vệ thương mại với thép, xi măng Việt Nam. Xuất khẩu thép Trung Quốc năm 2025 đạt 131 triệu tấn, tăng 153% so 2020.

Bằng chứng dịch chuyển sản xuất: chi tiêu xây dựng nhà xưởng tại Hoa Kỳ giảm 22,0% so cùng kỳ và doanh thu phân khúc nhà xưởng của nhóm 250 nhà thầu quốc tế lớn nhất giảm 29,5% — trong khi Việt Nam và Malaysia (xây dựng phi nhà ở quý II tăng 13,3%) đều tăng.

Khối lượng đang tăng thật, nhưng tiền chưa ra kịp khối lượng

Nhu cầu vốn lưu động của nhà thầu sẽ đạt đỉnh trong quý III – quý IV/2026, trước khi khoản thanh toán về.

Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Bộ Tài chính. Trên kế hoạch 1.014.234,2 tỷ đồng, số đến 06/08/2026

Lưới điện 110–500kV của EVN: kế hoạch 2026 so thực hiện 7 tháng
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: EVN, đơn vị: số công trình

Riêng tuần đầu tháng 8 chỉ giải ngân bằng 24% tuần trước. Đây đồng thời là cửa sổ nhu cầu vốn lớn nhất và cửa sổ rủi ro thanh khoản lớn nhất của ngành trong năm. Từ tháng 10/2026 áp dụng hệ thống chấm điểm giải ngân cho bộ ngành và địa phương.

Bốn phân khúc, bốn bài toán khác nhau

Không nên đánh giá chung cả ngành là hưởng lợi đầu tư công — khối lượng việc và chất lượng bên thanh toán chênh nhau rất xa giữa các phân khúc.

Xây lắp điện và năng lượng

Khối lượng rất lớn · thanh toán tốt nhất.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh dành 136,3 tỷ USD cho giai đoạn 2026–2030, gồm nguồn điện 118,2 tỷ USD và lưới truyền tải 18,1 tỷ USD.

Kế hoạch 2026 của EVN là hoàn thành 300 và khởi công 285 dự án lưới. Thực hiện 7 tháng mới đạt khoảng 34% và 33% kế hoạch — khoảng 187 dự án lưới còn phải khởi công trong 5 tháng cuối năm.

Chủ đầu tư là EVN và các tổng công ty điện lực, chất lượng thanh toán tốt nhất trong các nhóm chủ đầu tư. Hàng rào gia nhập là chứng chỉ năng lực chuyên ngành, đồng thời là lợi thế cho nhóm đã có kinh nghiệm.

Nhà xưởng công nghiệp và hạ tầng khu công nghiệp

Nền cầu chắc nhất · biên lợi nhuận tốt nhất.

Vốn FDI đăng ký 7 tháng đạt 38,06 tỷ USD (tăng 58,0%), vốn thực hiện 15,20 tỷ USD (tăng 11,8%) — cao nhất 5 năm. Công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 82,6% vốn thực hiện.

Tỷ lệ lấp đầy nhà xưởng xây sẵn miền Nam khoảng 92%, miền Bắc 82,7%. Dự báo 6 tháng cuối 2026 bổ sung khoảng 1.900 ha đất khu công nghiệp, 1 triệu m² nhà xưởng và 700.000 m² nhà kho.

Dự án lớn: Intel tăng vốn lên 4,1 tỷ USD; Amkor lên 1,6 tỷ USD; LG Innotek tại Hải Phòng; POSCO tại Thái Nguyên.

Chủ đầu tư FDI thường thanh toán đúng hạn, nhưng tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và tiến độ nghiêm ngặt hơn các phân khúc khác.

Hạ tầng giao thông

Khối lượng lớn nhất · rủi ro chi phí cao nhất.

Trên 739 km đường bộ đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Hà Nội khởi công 5 tuyến đường sắt đô thị ngày 22/06/2026 với tổng mức đầu tư trên 1,3 triệu tỷ đồng.

Chi phí tăng nhanh nhất trong các phân khúc: chỉ số giá công trình đường và cầu tại Hà Nội tăng 6,75% chỉ trong một quý. Đã có nhà thầu xin tạm dừng gói thầu tại Bắc Ninh ngày 19/08/2026 khi giá đá base và nhựa đường tăng gấp đôi trên hợp đồng trọn gói.

Bộ Xây dựng đã điều chỉnh giảm 75.661 tỷ đồng vốn của hai dự án đường sắt vì "vốn chưa có nhu cầu giải ngân". Mở rộng cao tốc Bắc – Nam dự kiến khởi công đầu 2027.

Dòng tiền năm 2026 tập trung ở các dự án đang thi công, không phải ở các đại dự án mới công bố.

Dân dụng và nhà ở xã hội

Khối lượng dồi dào · chất lượng bên thanh toán chênh lệch lớn.

Nhà ở xã hội lũy kế đến hết tháng 7: 875 dự án / 773.457 căn, đang thi công 270 dự án với 270.409 căn. Riêng Hà Nội đặt chỉ tiêu khởi công toàn bộ 114 dự án trong 6 tháng cuối 2026.

Nhà ở thương mại nguồn cung tăng mạnh nhưng thanh khoản yếu: TP.HCM 7 tháng có 21.165 căn đủ điều kiện mở bán (tăng 133% so cả năm 2025), Hà Nội 16.600 căn — cao nhất kể từ 2020. Nhưng giao dịch Hà Nội quý II giảm 51%, tỷ lệ hấp thụ sơ cấp chỉ 50–60%.

Trên 1.460 doanh nghiệp bất động sản giải thể trong 6 tháng 2026; áp lực đáo hạn trái phiếu quý III–IV/2026 khoảng 133.700 tỷ đồng.

Nhà ở xã hội có nguồn ngân sách và chính sách hậu thuẫn; nhà ở thương mại phụ thuộc thanh khoản của chủ đầu tư tư nhân.

Chi phí đầu vào tăng không đều

Chênh lệch giữa các loại công trình lớn hơn chênh lệch giữa các quý — phân khúc quyết định mức độ chịu áp lực.

Chỉ số giá xây dựng Hà Nội quý II/2026 theo loại công trình
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Sở Xây dựng Hà Nội, % so quý I

Chỉ số giá xây dựng Hà Nội quý II/2026 theo vật liệu
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Sở Xây dựng Hà Nội, % so quý I

Tăng trưởng nằm ở doanh thu, không nằm ở lợi nhuận cốt lõi

Quý II/2026, 100 doanh nghiệp xây dựng niêm yết ghi nhận doanh thu hợp nhất khoảng 57.000 tỷ đồng (tăng 12%) và lợi nhuận sau thuế khoảng 2.200 tỷ đồng (tăng 52%); biên lợi nhuận gộp toàn nhóm 10%.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh 6 tháng 2026
Đang dựng biểu đồ…

Nguồn: Báo cáo tài chính quý II/2026 do doanh nghiệp công bố, đơn vị: tỷ đồng

Điều gì thực sự đứng sau mức tăng lợi nhuận 52%. Phần lớn mức tăng đến từ nền so sánh thấp (FCN tăng 360%, TV2 tăng 207%), từ hoạt động tài chính (VCG, PC1) hoặc từ thoái vốn (CC1). Các nhà thầu thuần xây lắp đều chứng kiến biên gộp co lại.

Có 47 doanh nghiệp tăng lãi, 25 giảm lãi. Riêng Lilama lãi 490 tỷ đồng, chiếm 22% tổng lợi nhuận toàn nhóm.

Tổng phải thu ngắn hạn của nhóm là 132.600 tỷ đồng, giảm 8% so đầu năm. Bốn trong sáu nhà thầu niêm yết lớn âm dòng tiền kinh doanh dù vẫn báo lãi.

Năm rủi ro cần theo dõi

Rủi ro của ngành không nằm ở khối lượng việc mà ở tốc độ giải ngân và thời điểm dòng tiền về.

1. Chi phí trên hợp đồng đã ký. Chỉ số giá công trình đường và cầu tại Hà Nội tăng 6,75% chỉ trong quý II, diesel tăng 27,10%, cát xây dựng tăng 5,83%. Nghị định 210/2026 và Công văn 6761/BXD-KTQLXD đã mở đường điều chỉnh giá nhưng chưa có công thức và ngưỡng cụ thể — hợp đồng trọn gói ký trước quý I/2026 vẫn là hợp đồng có nguy cơ lỗ.

2. Dòng tiền và nợ đọng. Phải thu ngắn hạn của 100 doanh nghiệp niêm yết là 132.600 tỷ đồng; phải thu chiếm 65,2% tổng tài sản tại HBC và 42,7% tại CTD. Bốn trong sáu nhà thầu lớn âm dòng tiền kinh doanh dù vẫn báo lãi.

3. Dồn khối lượng vào quý IV. Đến 06/08/2026 giải ngân đầu tư công đạt 42,7%; còn khoảng 580.780 tỷ đồng phải giải ngân trong gần 5 tháng. Nhà thầu sẽ phải ứng vốn lưu động ở mức cao nhất nhiều năm ngay trong quý III–IV, trước khi khoản thanh toán về.

4. Thiếu hụt cục bộ vật liệu san lấp. Điểm nghẽn cát, đá tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long; cát biển bị hạn chế theo mùa. Cơ chế điều phối liên vùng và cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu dự kiến hoàn thành trong tháng 10/2026 — một hồ sơ chậm tiến độ ở miền Tây có nguyên nhân khác hoàn toàn với hồ sơ chậm ở miền Bắc.

5. Vốn ngân hàng đang chảy mạnh vào ngành. Dư nợ cho vay xây dựng 6 tháng đầu 2026 tăng rất mạnh ở nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân: Techcombank tăng 56,26%, VIB tăng 41,86%, Kiên Long tăng 28,20%. Đây là cửa sổ tiếp cận vốn thuận lợi, nhưng cũng có nghĩa mức độ tập trung rủi ro ngành đang tăng đúng lúc biên lợi nhuận toàn ngành mỏng nhất.

Ba kịch bản 6 tháng cuối 2026 – 2027

Biến số gốc chi phối cả ba: tốc độ giải ngân đầu tư công và giá dầu.

Kịch bảnGiả địnhHàm ý
Cơ sở — khả năng caoGiải ngân cả năm đạt 80–90% kế hoạch (nền 2025 là 83,7%); Brent bình quân 86–87 USD/thùng theo EIA và World Bank; thép và xi măng đi ngang ở mức cao; thanh khoản bất động sản chưa cải thiện rõ.Doanh thu ngành tăng hai chữ số nhưng biên gộp toàn nhóm giữ ở 9–11%. Nhu cầu vốn lưu động đạt đỉnh quý IV.
Thuận lợi — ít khả năngCơ chế điều phối vật liệu liên vùng hoàn thành đúng tháng 10/2026; có hướng dẫn công thức điều chỉnh giá hợp đồng cụ thể; giải ngân vượt 90%; giá dầu về vùng 70 USD/thùng sớm hơn dự báo.Biên gộp phục hồi 1–2 điểm phần trăm; nhóm hạ tầng giao thông hưởng lợi mạnh nhất vì đang chịu áp lực chi phí lớn nhất.
Bất lợi — cần dự phòngXung đột Trung Đông leo thang, Brent lên vùng 95–115 USD/thùng theo kịch bản xấu của World Bank; cát đá tiếp tục thiếu hụt; chủ đầu tư giãn tiến độ, chậm thanh toán; giải ngân dưới 75%.Hiện tượng "càng thi công càng lỗ" lan rộng; thêm trường hợp nhà thầu xin tạm dừng gói thầu. Cần rà soát ngay nhóm hợp đồng trọn gói ký trước quý I/2026.

Sáu chỉ tiêu doanh nghiệp nên tự soi hằng quý

Mức tham chiếu là mức quan sát được của nhóm niêm yết lớn nhất, không phải chuẩn của cơ quan quản lý.

Chỉ tiêuNgưỡng cần lưu ýMức quan sát được ở nhóm niêm yết
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanhÂm hai quý liên tiếpBốn trong sáu nhà thầu lớn âm dòng tiền 6 tháng 2026 dù vẫn báo lãi
Phải thu ngắn hạn trên tổng tài sảnNhóm niêm yết dao động 31–65%HBC 65,2% · CTD 42,7% · PHC 42,6% · LCG 31,3% tại 30/6/2026
Dư nợ vay trên vốn chủ sở hữuNhóm rủi ro cao ở mức trên 150%PHC 233,9% · CII 214,5% · HBC 198,2% · FCN 126,0% · CTD 61,6%
Biên lợi nhuận gộp riêng mảng xây lắpNhà thầu thuần hiện ở 5–9%, toàn ngành 10%PHC rơi từ 9,3% xuống 5,3% chỉ trong một năm; CC1 đã lỗ gộp ở mảng xây lắp
Tỷ trọng nợ ngắn hạn trên tổng nợHBC ở mức 95% là trường hợp cực đoanNợ phải trả HBC chiếm 88% tổng tài sản
Chi phí sản xuất kinh doanh dở dangTăng nhanh hơn doanh thuDấu hiệu bị chậm nghiệm thu

Nguồn dữ liệu và ghi chú phương pháp

Số liệu chốt ngày 20/08/2026.

Nguồn hạng 1: Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, EVN, Sở Xây dựng Hà Nội, US Census Bureau, Eurostat, Cục Thống kê Trung Quốc, World Bank, IMF, OECD, World Steel Association.

Nguồn hạng 2: báo cáo tài chính quý do doanh nghiệp công bố, Turner & Townsend, SteelBenchmarker.

Hạn chế dữ liệu. Không có chỉ số giá xây dựng tổng hợp toàn quốc — các tỉnh tự công bố, chỉ Hà Nội có bản quý II/2026 truy xuất được.

Đánh giá định tính. Các nhận định và cách phân loại phân khúc trong bản tin này là đánh giá của SME GROW AI trên cơ sở số liệu đã dẫn, không phải số liệu công bố.

Bản tin này có hữu ích với bạn không?

Theo dõi bản tin

Để lại email một lần. Chúng tôi gửi bản tin ngay khi kênh phát hành qua email sẵn sàng.

Đăng ký theo dõi