Tăng trưởng
Các định chế quốc tế vẫn dự báo năm 2026 tăng chậm hơn năm 2027. Bản mới nhất của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế (OECD), công bố ngày 23/09, nâng nhẹ dự báo cho 2026. Nguồn: IMF WEO Update T7/2026, OECD Interim Report T9/2026, World Bank GEP T6/2026. IMF và OECD tính theo sức mua tương đương, World Bank theo tỷ giá thị trường.
OECD dự báo kinh tế toàn cầu tăng 2,9% năm 2026 và 3,0% năm 2027 — nâng 0,1 điểm % cho 2026 và hạ 0,1 điểm % cho 2027 so với bản tháng 6. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, bản tháng 7) giữ 3,0% và 3,4%; Ngân hàng Thế giới (World Bank, bản tháng 6) ở 2,5% và 2,8%. Mức của World Bank thấp hơn là do cách tính: IMF tính theo sức mua tương đương, World Bank theo tỷ giá thị trường.
Theo từng nền kinh tế, ba định chế cùng dự báo Hoa Kỳ tăng 2,2–2,3% năm 2026, Trung Quốc 4,2–4,6%, khu vực đồng euro 0,8–1,0%.
Diễn biến. GDP quý II của Hoa Kỳ tăng 1,5% so với quý trước theo tốc độ năm hoá (ước tính lần hai).
Khu vực đồng euro tăng 0,6% so với quý trước và 1,2% so với cùng kỳ, sau khi cơ quan thống kê châu Âu
Eurostat nâng từ 0,4% và 1,0% ở bản ước tính tháng 8. Trung Quốc tăng 4,3% so với cùng kỳ, 6 tháng đầu
năm tăng 4,7%. Nguồn: S&P Global, HCOB, J.P.Morgan, RatingDog, NBS Trung Quốc. Trên 50 điểm là mở rộng.
PMI là chỉ số do S&P Global khảo sát hằng tháng các giám đốc mua hàng; trên 50 điểm là sản xuất đang mở rộng. PMI sản xuất toàn cầu tháng 8 đạt 52,3 điểm, trên 50 tháng thứ 13 liên tiếp. Khu vực đồng euro lên 52,7 điểm, cao nhất 51 tháng; Nhật Bản 54,9 điểm. Chỉ số chính thức của Trung Quốc do Cục Thống kê Quốc gia (NBS) công bố vẫn dưới ngưỡng, ở 49,8 điểm; khảo sát khối tư nhân RatingDog — trước đây mang tên Caixin — đạt 51,5 điểm.
Số sơ bộ tháng 9, công bố ngày 23/09, còn cao hơn: PMI sản xuất Hoa Kỳ 57,0 điểm, chỉ số tổng hợp 58,4 điểm — mức mở rộng nhanh nhất kể từ tháng 7/2021. Số chính thức ra ngày 01/10.
Chu kỳ tiền tệ chuyển sang thắt chặt đồng loạt.
| Ngân hàng trung ương | Lãi suất điều hành | Quyết định gần nhất |
|---|---|---|
| Fed (Hoa Kỳ) | 3,75–4,00% | Tăng 25 điểm cơ bản ngày 16/09, biểu quyết 12–0 |
| ECB (khu vực đồng euro) | Lãi suất tiền gửi 2,50% | Tăng 25 điểm cơ bản ngày 10/09, lần thứ hai trong năm |
| BOJ (Nhật Bản) | Khoảng 1,25% | Tăng ngày 18/09, biểu quyết 7–2, áp dụng từ 24/09 |
| Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc | Lãi suất cho vay cơ bản 1 năm 3,0%; trên 5 năm 3,5% | Giữ nguyên tháng thứ 16 liên tiếp |
Fed viết trong thông cáo rằng lạm phát vẫn ở mức cao và quyết định lần này giúp đưa lạm phát về mục tiêu 2% kịp thời hơn. ECB cho biết sẽ quyết định theo dữ liệu, từng cuộc họp một, và không cam kết trước một lộ trình lãi suất. Các cuộc họp kế tiếp: Fed ngày 27–28/10, ECB ngày 28–29/10, BOJ ngày 29–30/10.
Lạm phát
Giá năng lượng đẩy lạm phát tổng thể lên cao hơn lạm phát cơ bản ở hầu hết các nền kinh tế lớn. Nguồn: BLS (Hoa Kỳ), Eurostat, NBS (Trung Quốc), Cục Thống kê (Việt Nam). Lạm phát cơ bản mỗi nơi loại trừ các nhóm hàng khác nhau.
Ở Hoa Kỳ, CPI tháng 8 tăng 3,4% so với cùng kỳ, riêng năng lượng tăng 16,3%; lạm phát cơ bản 2,4%. Khu vực đồng euro lên 3,2% từ 2,9% của tháng 7 — bản sơ bộ từng in 3,3% trước khi Eurostat sửa xuống; dịch vụ góp 1,43 điểm % và năng lượng 1,29 điểm %. Trung Quốc vẫn thấp, CPI 0,8% và lạm phát cơ bản 1,0%, nhưng chỉ số giá sản xuất đã tăng 3,8% so với cùng kỳ.
Việt Nam đổi chiều so với tháng trước. Tháng 7, lạm phát cơ bản (4,63%) cao hơn CPI tổng thể
(4,45%). Tháng 8, CPI tổng thể lên 4,89% còn lạm phát cơ bản lùi về 4,55% — giống Hoa Kỳ và khu vực
đồng euro, phần tăng thêm nằm ở nhóm năng lượng. Nguồn: EIA, qua FRED (chuỗi DCOILBRENTEU), cập nhật 23/09/2026. Ngày 31/08 không có số.
Giá dầu tăng mạnh trong ba tuần rồi mới lùi. Brent giao ngay từ 87,77 USD/thùng ngày 26/08 vượt 100 USD ngày 03/09, lên 130,80 USD ngày 15/09, rồi giảm dần về 114,89 USD ngày 22/09. Bình quân tháng 8 là 91 USD, cao hơn tháng 7 là 7 USD.
Dự báo giá dầu gần nhất của Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) được lập trước đợt tăng này: bản Short-Term Energy Outlook tháng 9, chốt số ngày 03/09, dự báo Brent bình quân 91 USD/thùng cho năm 2026 và 74 USD cho năm 2027. Chỉ số giá năng lượng tháng 8 của World Bank ở 118,4 điểm (năm 2010 = 100), cũng chưa tính đợt tăng tháng 9.
Dự báo. IMF, trong bản tháng 7, dự báo lạm phát toàn cầu 4,7% năm 2026 và 3,9% năm 2027.
Thương mại
Chỉ số Goods Trade Barometer của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) — đo sớm khối lượng thương mại hàng hoá, trên 100 điểm là cao hơn xu hướng dài hạn — công bố ngày 09/09 ở 102,0 điểm, tăng từ 101,7 điểm kỳ trước. Linh kiện điện tử cao nhất với 104,9 điểm, WTO gắn với nhu cầu hàng phục vụ trí tuệ nhân tạo; vận tải container là thành phần duy nhất dưới 100, ở 99,6 điểm.
WTO dự báo khối lượng thương mại hàng hoá năm 2026 tăng 1,9% ở kịch bản cơ sở, 1,4% nếu giá năng lượng ở mức cao, và năm 2027 tăng 2,6%. Bản dự báo này có từ tháng 3/2026.
Cước vận tải biển. Chỉ số cước container của công ty tư vấn hàng hải Drewry kỳ 24/09 ở 4.468 USD
cho mỗi container 40 feet, giảm 1% trong tuần. Tuyến Thượng Hải – Los Angeles 7.838 USD, tăng 2%; tuyến
Thượng Hải – New York 10.373 USD, không đổi; tuyến Thượng Hải – Rotterdam 3.485 USD, giảm 4%. Như kỳ trước, áp lực dồn vào tuyến xuyên Thái Bình Dương. Nguồn: USTR Annex I & II; Yale Budget Lab 11/08/2026. Miễn trừ xác định theo mã HS 8–10 số, không theo mô tả sản phẩm.
Thuế Mục 301 với hàng Việt Nam giữ ở 12,5% từ 24/07/2026, là thuế cộng thêm trên các nghĩa vụ đang có. Nhóm được miễn trừ — điện tử, máy tính, bán dẫn, thiết bị viễn thông, dược phẩm, năng lượng và một số nông sản — chiếm khoảng 49% giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Hai diễn biến trong kỳ. Thứ nhất, ngày 21/09 tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Trưởng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer. Theo ông Greer, nỗ lực của hai đoàn đàm phán đã đưa Hiệp định Thương mại đối ứng tới gần kết quả cuối cùng; điểm còn vướng là mối lo của phía Hoa Kỳ về hàng trung chuyển và việc mở cửa thị trường cho doanh nghiệp Mỹ.
Thứ hai, ngày 06/08 Hoa Kỳ áp thuế theo Mục 232 lên polysilicon và sản phẩm phái sinh, gồm pin và tấm pin mặt trời, hiệu lực từ 04/12/2026. Kèm theo là giá nhập khẩu tối thiểu — 0,22 USD/W với pin, 0,38 USD/W với tấm pin — và thuế 15% theo trị giá với hàng hạ nguồn.
Tăng trưởng
Nguồn: Cục Thống kê, 03/07/2026. Đường nét đứt là mức 6 tháng. Số quý III công bố ngày 03/10/2026.
Số GDP mới nhất vẫn là quý II: tăng 8,39%, đưa 6 tháng lên 8,18%. Trong quý II, công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, dịch vụ 7,87%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 4,06%. Số quý III công bố ngày 03/10.
Sản xuất công nghiệp. Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 11,9% — theo Cục Thống kê là mức tăng 8 tháng cao nhất so với cùng kỳ các năm trước; riêng tháng 8 tăng 14,4% so với cùng kỳ. Chế biến, chế tạo tăng 12,5% và đóng góp 9,6 điểm % vào mức tăng chung. Các ngành tăng mạnh nhất là sản xuất kim loại (22,4%), đồ uống (16,4%) và xe có động cơ (15,9%).
PMI sản xuất tháng 8 đạt 53,3 điểm (tháng 7: 52,9), trên 50 tháng thứ 14 liên tiếp và cao nhất kể từ tháng 2. Sản lượng tăng tháng thứ 16 liên tiếp, nhanh nhất hơn hai năm; đơn đặt hàng mới tăng nhanh nhất kể từ tháng 10/2025. Nhưng đơn hàng xuất khẩu mới giảm lần đầu trong bốn tháng, và việc làm giảm lần thứ năm trong sáu tháng.
Tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đạt 5.235,5 nghìn tỷ
đồng, tăng 13,3%; loại trừ yếu tố giá tăng 7,6%, nhỉnh hơn mức 7,5% cùng kỳ 2025. Doanh thu lưu trú,
ăn uống tăng 16,4%; du lịch lữ hành tăng 17,1%. Khách quốc tế 8 tháng đạt 15,9 triệu lượt, tăng 14,4%. Nguồn: Cục Thống kê. (*) Cột cuối là số 8 tháng đầu 2026, không phải cả năm.
FDI tiếp tục là điểm sáng. Tính đến 31/08, vốn đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% — đã vượt cả năm 2025. Vốn cấp mới 21,72 tỷ USD, tăng 96,8%, với 2.771 dự án. Vốn thực hiện 17,25 tỷ USD, tăng 12,0%, cao nhất của 8 tháng trong 5 năm. Singapore (7,62 tỷ USD) và Hàn Quốc (5,67 tỷ USD) dẫn đầu về vốn cấp mới.
Đầu tư từ ngân sách. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng đạt 546,8 nghìn tỷ
đồng, tăng 18,5% và bằng 50,5% kế hoạch năm; riêng tháng 8 đạt 105,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1%. Gần
một nửa kế hoạch còn lại cho bốn tháng cuối năm. Nguồn: Cục Thống kê (6 tháng đầu, 03/07/2026); Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/06/2026 (mục tiêu 6 tháng cuối)
Dự báo. Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/06/2026 đặt mục tiêu tăng trưởng 11,9% cho sáu tháng cuối để cả năm đạt 10%, trong khi sáu tháng đầu đạt 8,18%. Cùng thời điểm, báo cáo của các bộ và địa phương dự kiến GDP cả năm tăng 8,7%. Số quý III công bố ngày 03/10 sẽ cho thấy khoảng cách này hẹp lại hay giãn ra.
Lạm phát
Nguồn: Cục Thống kê
CPI tháng 8 tăng 0,47% so với tháng trước và 4,89% so với cùng kỳ — cao nhất kể từ tháng 5, sau hai tháng giảm liên tiếp tính theo tháng. So với tháng 12/2025, CPI tăng 3,57%.
Giao thông chiếm gần trọn mức tăng. Nhóm giao thông tăng 4,09% trong tháng và góp 0,41 điểm % vào mức tăng 0,47% của CPI; giá dầu diesel tăng 22,15%, xăng tăng 9,53%. Có 10 trong số 11 nhóm hàng tăng giá; riêng hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%.
Giá xăng dầu tăng tiếp trong tháng 9. Từ 15 giờ ngày 24/09, giá xăng E5RON92 tăng 1.258 đồng lên tối
đa 26.397 đồng/lít, xăng E10RON95-III tăng 1.451 đồng lên 27.087 đồng/lít và dầu diesel tăng 552 đồng
lên 30.497 đồng/lít. CPI tháng 9 công bố ngày 03/10. Nguồn: Cục Thống kê
Bình quân 8 tháng, CPI tăng 4,45% — cao nhất cùng kỳ kể từ 2021 và sát mục tiêu 4,5% cả năm. Lạm phát cơ bản bình quân 4,24%.
Tính riêng tháng 8 so với cùng kỳ, lạm phát cơ bản 4,55% đã trở lại thấp hơn CPI tổng thể (4,89%), sau khi vượt lên ở tháng 7. Lạm phát cơ bản loại trừ lương thực, thực phẩm, năng lượng và các mặt hàng do Nhà nước quản lý giá, nên khoảng cách mở ra theo chiều này khớp với việc nhóm giao thông gánh phần lớn mức tăng của tháng.
Tính theo nhóm, bình quân 8 tháng: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,71% và góp
1,52 điểm %; giao thông tăng 5,38%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76%. Nguồn: Cục Thống kê, bình quân 6 tháng so với cùng kỳ. Số 9 tháng công bố ngày 03/10/2026.
Số giá sản xuất mới nhất vẫn là bình quân 6 tháng: giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,04%, nhanh hơn giá bán ra của sản phẩm công nghiệp (5,40%). Trên thị trường thế giới, chỉ số giá tháng 8 của World Bank cho kim loại cơ bản ở 164,8 điểm và phân bón ở 146,4 điểm (năm 2010 = 100).
Chỉ số giá vàng tháng 8 giảm 0,65% so với tháng trước, nhưng bình quân 8 tháng vẫn cao hơn cùng kỳ 46,98%. Chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,38% so với tháng trước.
Thương mại
Nguồn: Cục Thống kê
Tám tháng 2026, xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD (+22,4%), nhập khẩu 395,30 tỷ USD (+35,3%); tổng
kim ngạch 770,14 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay của cùng kỳ. Cán cân chuyển từ xuất siêu 14,02 tỷ
USD cùng kỳ 2025 sang nhập siêu 20,46 tỷ USD. Nguồn: Cục Hải quan, bảng xuất nhập khẩu hàng hoá theo tháng (sơ bộ). Tháng 2 thấp do nghỉ Tết Nguyên đán.
Tháng 8 gần cân bằng, nửa đầu tháng 9 nới rộng trở lại. Tháng 8, xuất khẩu 54,79 tỷ USD, tăng 26,0%
so với cùng kỳ; nhập khẩu 54,91 tỷ USD, tăng 37,9%; nhập siêu chỉ 0,12 tỷ USD. Sang kỳ 1 tháng 9 (từ 01
đến 15/09), nhập khẩu tăng 7,16% so với kỳ 2 tháng 8 lên 28,84 tỷ USD, còn xuất khẩu tăng 2,4% lên
26,02 tỷ USD — nhập siêu 2,82 tỷ USD trong nửa tháng. Luỹ kế đến 15/09, nhập siêu 23,5 tỷ USD. Nguồn: Cục Thống kê
Nhập siêu nằm ở khu vực trong nước. Khu vực có vốn FDI xuất khẩu 300,37 tỷ USD — 80,1% tổng xuất
khẩu, tăng 26,9% — và xuất siêu 10,14 tỷ USD. Khu vực trong nước xuất khẩu 74,47 tỷ USD, chỉ tăng 7,4%,
trong khi nhập khẩu tăng 23,7% lên 105,07 tỷ USD; nhập siêu 30,60 tỷ USD. Nguồn: Cục Thống kê. Dương là xuất siêu, âm là nhập siêu.
Xuất siêu sang Hoa Kỳ 106,6 tỷ USD, tăng 22,7%; nhập siêu từ Trung Quốc 107,7 tỷ USD, tăng 41,7% và từ Hàn Quốc 37,8 tỷ USD, tăng 89,4%.
Nhóm máy vi tính và điện tử. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất: 161,63 tỷ USD, tăng 68,3% — nhanh hơn xuất khẩu của chính nhóm này, khoảng 101 tỷ USD, tăng 51,1%. Riêng nhóm này nhập siêu 60,5 tỷ USD. Điện thoại và linh kiện xuất khẩu 45,6 tỷ USD (+19,4%); dệt may 26,897 tỷ USD, chỉ tăng 1,6%.
Tỷ giá và Lãi suất
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước; một số mốc tháng 9 theo báo chí dẫn lại
Tỷ giá trung tâm ngày 28/09 là 25.632 đồng/USD, giảm 9 đồng so với mức 25.641 ngày 26/09 và cao hơn 25.121 đồng đầu năm. Biên độ ±5% không đổi, tương ứng sàn 24.350 và trần 26.914 đồng.
Giá giao dịch đi không cùng chiều. Vietcombank niêm yết bán 26.170 đồng ngày 26/09, thấp hơn mức 26.300 ngày 26/08. Thị trường tự do ở khoảng 25.890–25.930 đồng cuối tuần 21–25/09, cao hơn 25.820–25.860 ngày 26/08. Chỉ số DXY — đo sức mạnh đồng đô la so với rổ sáu đồng tiền chính — ở 101,04 điểm sáng 26/09.
Ngày 21/09, Ngân hàng Nhà nước thông báo nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ USD/VND kỳ hạn 7 ngày, hạn mức tối
đa 2 tỷ USD. Nguồn: Ngân hàng Nhà nước, phiên 20/08 và 24/09/2026. Kỳ hạn 9 tháng của phiên 24/09 là số tham chiếu ngày 23/09.
Hai đầu đường cong cùng hạ. So với phiên 20/08, lãi suất qua đêm phiên 24/09 còn 1,10% từ 3,01%, kỳ hạn 3 tháng còn 7,20% từ 7,56% và 9 tháng còn 8,00% từ 8,80%.
Thanh khoản biến động mạnh trong tuần 21–25/09. Lãi suất qua đêm lên 7,00% phiên 21/09 theo số liệu
thị trường do Thời báo Ngân hàng dẫn lại, về 1,10% phiên 24/09 theo Ngân hàng Nhà nước và còn khoảng 0,7% phiên 25/09. Trong tuần,
Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua thị trường mở, phát hành hơn 67.576 tỷ đồng các kỳ
hạn 7, 14, 35 và 91 ngày với lãi suất 4,5%/năm, theo Thời báo Tài chính Việt Nam. Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Mốc 28/08 theo phát biểu của Thống đốc, do báo chí đưa tin.
Tín dụng đến 28/08 tăng 10,24% so với cuối 2025, dư nợ khoảng 20,5 triệu tỷ đồng. Định hướng cả năm là khoảng 15% theo Chỉ thị 01/CT-NHNN.
Lãi suất cho vay tiếp tục tăng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần trong tháng 8 ở 8,4–10,7%/năm, tăng 0,2 điểm % so với tháng trước. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6–12 tháng lên 6,5–8,0%/năm. Ngày 23/09, lãi suất huy động 12 tháng tại quầy của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước ở 6,8%/năm.
Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn 4,5% và tái chiết khấu 3,0%. Từ 01/08, khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước giảm từ 80% xuống 50% (Quyết định 1743/QĐ-NHNN).
Động lực và Rào cản
Công nghiệp và Xây dựng
Động lực. Sản xuất công nghiệp 8 tháng tăng 11,9%, chế biến, chế tạo tăng 12,5% và đóng góp 9,6 điểm %. PMI tháng 8 đạt 53,3 điểm: sản lượng tăng tháng thứ 16, đơn đặt hàng mới tăng nhanh nhất kể từ tháng 10/2025. Vốn FDI cấp mới 21,72 tỷ USD, tăng 96,8%. Vốn đầu tư từ ngân sách 8 tháng tăng 18,5%.
Rào cản. Đơn hàng xuất khẩu mới giảm lần đầu trong bốn tháng; việc làm giảm lần thứ năm trong sáu tháng. Giá dầu diesel tăng 22,15% ngay trong tháng 8 và tăng thêm 552 đồng/lít từ ngày 24/09. Thuế Mục 232 của Hoa Kỳ với pin và tấm pin mặt trời hiệu lực từ 04/12. Lãi suất cho vay bình quân đã lên 8,4–10,7%/năm.
Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
Động lực. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống là nhóm duy nhất giảm giá trong tháng 8, giảm 0,03% và làm CPI chung giảm 0,01 điểm %. Khu vực tăng 4,06% trong quý II.
Rào cản. Giá phân bón thế giới ở mức cao: chỉ số phân bón của World Bank tháng 8 là 146,4 điểm, giá DAP 793,5 USD/tấn, urea 390 USD/tấn. Giá dầu diesel tăng 22,15% trong tháng 8. Thuỷ sản không thuộc nhóm được miễn trừ thuế Mục 301.
Dịch vụ
Động lực. Bán lẻ 8 tháng tăng 7,6% sau khi loại trừ yếu tố giá; lưu trú, ăn uống tăng 16,4%, lữ hành tăng 17,1%. Khách quốc tế đạt 15,9 triệu lượt, tăng 14,4%; khách châu Âu tăng 53,4%.
Rào cản. Lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi 6–12 tháng cùng tăng 0,2 điểm % trong tháng 8. CPI tháng 8 tăng 4,89%, cao nhất kể từ tháng 5.
Ma trận rủi ro và Hàm ý
Ma trận rủi ro — xác suất so với mức độ tác động
Vị trí là đánh giá định tính của nhóm phân tích, không phải số liệu công bố · trên cơ sở dữ liệu đến 27/09/2026
- Rủi ro cấp 1 — ưu tiên xử lý
- Rủi ro cấp 2 — theo dõi sát
- Rủi ro cấp 3 — giám sát
Số trên mỗi điểm là số thứ tự trong bảng dưới. Trục co về khoảng 2,5 – 5,0 để làm rõ khác biệt giữa các rủi ro.
| # | Rủi ro | Xác suất | Tác động | Cơ sở đánh giá |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Giá dầu neo cao | 4,3/5 | 4,4/5 | Brent giao ngay lên 130,80 USD/thùng ngày 15/09 rồi lùi về 114,89 USD ngày 22/09, vẫn cao hơn nhiều mức 91 USD mà EIA dự báo cho bình quân 2026 (dự báo lập ngày 03/09). Nhóm giao thông trong CPI tháng 8 đã tăng 4,09%; giá xăng dầu trong nước tăng tiếp từ 24/09. |
| 2 | Lạm phát vượt mục tiêu 4,5% | 3,5/5 | 3,9/5 | CPI bình quân 8 tháng 4,45%; riêng tháng 8 tăng 4,89% so với cùng kỳ, cao nhất kể từ tháng 5. Đợt tăng giá dầu giữa tháng 9 nằm ngoài số tháng 8. |
| 3 | Nhập siêu kéo dài, áp lực tỷ giá | 4,0/5 | 3,6/5 | Nhập siêu luỹ kế đến 15/09 là 23,5 tỷ USD. Tháng 8 gần cân bằng (nhập siêu 0,12 tỷ USD) nhưng nửa đầu tháng 9 nhập siêu 2,82 tỷ USD. |
| 4 | Thuế Hoa Kỳ và đàm phán hiệp định | 3,6/5 | 4,3/5 | Thuế Mục 301 12,5% cộng thêm từ 24/07/2026. Ngày 21/09 hai bên cho biết đàm phán Hiệp định Thương mại đối ứng đã rất gần kết quả cuối cùng; hàng trung chuyển vẫn là điểm vướng. |
| 5 | Lãi suất trong nước tăng, thanh khoản biến động | 3,9/5 | 3,5/5 | Lãi suất cho vay bình quân tháng 8 ở 8,4–10,7%/năm, tăng 0,2 điểm %. Lãi suất qua đêm liên ngân hàng lên 7,00% phiên 21/09 rồi về khoảng 0,7% phiên 25/09 sau khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng trong tuần. |
| 6 | Lãi suất toàn cầu tăng đồng loạt | 4,2/5 | 3,2/5 | Fed tăng lên 3,75–4,00% (16/09), ECB đưa lãi suất tiền gửi lên 2,50% (10/09), BOJ lên khoảng 1,25% (18/09). Chỉ số DXY ở 101,04 điểm sáng 26/09. |
| 7 | Hụt mục tiêu tăng trưởng 10% | 4,6/5 | 2,8/5 | 6 tháng đầu đạt 8,18%; Nghị quyết 168/NQ-CP đặt mục tiêu 11,9% cho 6 tháng cuối để cả năm đạt 10%. Số quý III công bố ngày 03/10. |
Hàm ý cho doanh nghiệp
Chi phí và nguồn vốn. Nếu có nhu cầu vốn cho quý IV, nên làm việc với ngân hàng sớm hơn thường lệ: lãi suất cho vay bình quân đã lên 8,4–10,7%/năm, tăng 0,2 điểm % chỉ trong tháng 8, và tín dụng đã tăng 10,24% so với định hướng khoảng 15% cả năm. Ba ngân hàng trung ương lớn vừa tăng lãi suất, và ECB nói không cam kết trước lộ trình. Với vốn lưu động ngắn hạn, lãi suất qua đêm liên ngân hàng đi từ 7,00% phiên 21/09 xuống 0,7% phiên 25/09 là dấu hiệu chi phí vốn ngắn hạn có thể biến động nhanh.
Xuất khẩu và thuế quan. Doanh nghiệp xuất khẩu sang Hoa Kỳ nên chuẩn bị kịch bản cho cả hai hướng: Hiệp định Thương mại đối ứng được ký, hoặc các biện pháp mới nhắm vào hàng trung chuyển. Tra mã HS 8–10 số của từng dòng hàng — miễn trừ thuế Mục 301 xác định theo mã HS, và chênh lệch giữa được và không được miễn trừ là 12,5 điểm % thuế. Doanh nghiệp làm pin, tấm pin mặt trời cần tính giá nhập khẩu tối thiểu và thuế 15% theo Mục 232 từ 04/12. Dệt may, giày dép nên theo sát đơn hàng quý IV: đơn hàng xuất khẩu mới trong khảo sát PMI tháng 8 đã giảm.
Tỷ giá và đầu vào. Rà lại giả định giá nhiên liệu trong hợp đồng quý IV: dầu diesel trong nước lên tối đa 30.497 đồng/lít từ ngày 24/09; Brent ngày 22/09 ở 114,89 USD/thùng, trong khi dự báo 91 USD của EIA được lập ngày 03/09, trước đợt tăng giá. Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu nên xem lại kỳ hạn thanh toán và phòng ngừa rủi ro tỷ giá: nhập siêu luỹ kế đã lên 23,5 tỷ USD, tỷ giá trung tâm ngày 28/09 ở 25.632 đồng/USD, so với 25.121 đồng đầu năm.
Ngưỡng theo dõi
| Chỉ số | Mốc hiện tại | Ngưỡng cần chú ý |
|---|---|---|
| Giá dầu Brent giao ngay | 114,89 USD/thùng (22/09) | Quay lại trên 130 USD/thùng |
| CPI bình quân từ đầu năm | 4,45% (8 tháng) | Vượt mục tiêu 4,5% |
| Lạm phát cơ bản, so với cùng kỳ tháng | 4,55% (tháng 8) | Vượt 5,0% |
| Nhập siêu luỹ kế | −23,5 tỷ USD (đến 15/09) | Vượt −28 tỷ USD trước tháng 11 |
| Lãi suất liên ngân hàng 9 tháng | 8,00% (24/09) | Vượt 9,5% |
| Lãi suất liên ngân hàng qua đêm | 0,7% (25/09) | Quay lại trên 7,00% như phiên 21/09 |
| Tăng trưởng tín dụng | 10,24% (đến 28/08) | Dưới 12% vào cuối tháng 10 |
| Tỷ giá trung tâm | 25.632 (28/09) | Tốc độ tăng vượt 300 đồng/tháng |
| Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách | 50,5% kế hoạch (8 tháng) | Dưới 65% kế hoạch sau 10 tháng |
| PMI sản xuất Việt Nam | 53,3 điểm (tháng 8) | Xuống dưới 50 điểm |
Nguồn dữ liệu và ghi chú phương pháp
Số liệu chốt ngày 28/09/2026.
Nền của bản tin là số liệu tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (công bố 03/09), số xuất nhập khẩu kỳ 1 tháng 9 của Cục Hải quan (công bố 22/09) và dữ liệu thị trường đến ngày 22–28/09. GDP quý III, CPI, sản xuất công nghiệp, bán lẻ và FDI tháng 9 chưa đến kỳ công bố (dự kiến 03/10/2026).
Tổ chức quốc tế. IMF World Economic Outlook Update tháng 7/2026; OECD Economic Outlook, Interim Report tháng 9/2026 (23/09/2026); World Bank Global Economic Prospects tháng 6/2026 và Pink Sheet kỳ tháng 8/2026 (02/09/2026); WTO Goods Trade Barometer (09/09/2026) và Global Trade Outlook tháng 3/2026; EIA Short-Term Energy Outlook tháng 9/2026 (chốt số 03/09/2026); EIA qua FRED, chuỗi Brent giao ngay DCOILBRENTEU (cập nhật 23/09/2026); S&P Global — PMI tháng 8 và PMI sơ bộ tháng 9/2026, cùng HCOB, J.P.Morgan và RatingDog; Drewry World Container Index kỳ 24/09/2026; ICE — chỉ số DXY; thông cáo của Fed (16/09), ECB (10/09), BOJ (18/09); công bố lãi suất cho vay cơ bản của Trung Quốc; BEA, BLS, Eurostat, NBS; USTR (Annex I & II, thông báo cuối cùng về Mục 301); Nhà Trắng (tuyên bố về Mục 232, 06/08/2026); Yale Budget Lab (11/08/2026); Reuters (buổi tiếp ngày 21/09/2026).
Việt Nam. Cục Thống kê (Bộ Tài chính) — báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026, báo cáo CPI tháng 8; Cục Hải quan — bảng xuất nhập khẩu hàng hoá theo tháng (sơ bộ) và số liệu kỳ 1 tháng 9; Ngân hàng Nhà nước — tỷ giá trung tâm, lãi suất liên ngân hàng, lãi suất điều hành, Chỉ thị 01/CT-NHNN, Quyết định 1743/QĐ-NHNN; Khối Nguồn vốn và Kinh doanh tiền tệ MB — bản tin kinh tế tài chính tuần 21–25/09 và ngày 28/09/2026; số liệu lãi suất, tín dụng và thị trường do Báo Điện tử Chính phủ, VnExpress, Thời báo Ngân hàng, Thời báo Tài chính Việt Nam, VOV, Thanh Niên, VietnamPlus/TTXVN, VTV và Nhân Dân đưa tin; điều chỉnh giá xăng dầu của liên Bộ Công Thương – Tài chính từ 15 giờ ngày 24/09/2026; Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/06/2026, cùng ước tính GDP cả năm 8,7% theo báo cáo của các bộ, địa phương (VnExpress đưa tin ngày 28/06/2026).
Ghi chú phương pháp.
- IMF tính GDP theo sức mua tương đương, World Bank theo tỷ giá thị trường; chênh lệch mức giữa hai định chế là do phương pháp, không phải bất đồng dự báo.
- Giá dầu Brent kỳ này dùng chuỗi giao ngay của EIA qua FRED. Kỳ trước dùng giá khác nguồn nên mốc 26/08 lệch nhau: 86,34 USD ở kỳ trước, 87,77 USD trong chuỗi của EIA. Chuỗi này mới cập nhật đến phiên 22/09.
- Chỉ số Goods Trade Barometer phản ánh dữ liệu thương mại đến khoảng giữa năm 2026.
- Cục Thống kê công bố CPI theo năm gốc 2024 từ tháng 11/2025 (rổ 775 mặt hàng); tám điểm của năm 2026 trên biểu đồ CPI cùng một rổ.
- Hai bộ số xuất nhập khẩu. Số 8 tháng, theo khu vực và theo đối tác lấy từ báo cáo của Cục Thống kê; chuỗi theo tháng và số kỳ 1 tháng 9 lấy từ Cục Hải quan. Mỗi biểu đồ chỉ dùng một bộ.
- Đầu tư từ ngân sách kỳ này là vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của Cục Thống kê, khác số giải ngân vốn đầu tư công của Bộ Tài chính dùng ở kỳ trước; hai con số không cùng thước đo.
- Lãi suất qua đêm phiên 21/09 là số liệu thị trường do Thời báo Ngân hàng dẫn lại; số bơm ròng cả tuần 21–25/09 theo Thời báo Tài chính Việt Nam. Số liệu liên ngân hàng chính thức mới nhất của Ngân hàng Nhà nước là phiên 24/09; kỳ hạn 9 tháng của phiên này là số tham chiếu ngày 23/09. Lãi suất qua đêm phiên 25/09 (khoảng 0,7%) theo bản tin tuần 21–25/09 của Khối Nguồn vốn và Kinh doanh tiền tệ MB.
- Tín dụng đến 28/08 theo phát biểu của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại hội nghị, do báo chí tường thuật; chưa có bảng thống kê gốc.
- Mốc tỷ giá trung tâm ngày 23/09 và 26/09 theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước (394/TB-NHNN và 399/TB-NHNN); mốc 28/09 theo bản tin ngày 28/09 của Khối Nguồn vốn và Kinh doanh tiền tệ MB; các mốc khác của tháng 9 theo báo chí dẫn lại.
- Vị trí trên ma trận rủi ro, xếp hạng ba cấp và các ngưỡng theo dõi là đánh giá định tính của nhóm phân tích trên cơ sở số liệu đã dẫn, không phải số liệu công bố.